THE ART IN MY HEART !!!

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012

12 cách chọn ISO thích hợp nhất khi chụp ảnh


ISO là đại lượng đo độ nhạy sáng của cảm biến ảnh đối với ánh sáng. ISO càng cao, máy bắt ảnh càng tốt khi chụp ở những nơi có điều kiện ánh sáng tồi. Tuy nhiên, không phải lúc nào ISO cao cũng có lợi.

Độ nhạy sáng (ISO) là một con dao hai lưỡi. Khi ISO được điều chỉnh, độ nhạy của cảm biến ảnh sẽ thay đổi theo. Với  ISO cao hơn, cần tăng tốc độ cửa trập và giảm khẩu độ nhằm hạn chế mức tiếp xúc của ánh sáng với cảm biến trên máy. Ngược lại, ISO càng thấp, độ nhạy của cảm biến ảnh càng thấp.
Như vậy, ISO linh hoạt khiến cho việc chụp hình ở những điều kiện ánh sáng khác nhau dễ dàng hơn. Khi ánh sáng yếu và lo ngại đèn flash có thể làm hỏng thần thái bức ảnh, ISO cao sẽ là lựa chọn thích hợp. Tuy nhiên, ISO cao cũng đi kèm với nguy cơ “nhiễu” hay “hạt” cao. ISO càng tăng, ảnh chụp càng dễ sần, rạn. Do đó, bí quyết để có một nước ảnh thật mượt là chọn mức ISO thấp nhất có thể.

Sau đây là một số gợi ý giúp lựa chọn độ nhạy sáng thích hợp:
1. Nếu máy ảnh có chân cố định, hãy chọn tốc độ cửa trập nhỏ hơn, khi đó có thể hạ thấp ISO.
2. Khi không cần phải chụp xa, có thể tăng khẩu độ, để ánh sáng đi vào ống kính nhiều hơn và giảm bớt ISO
3. Có thể sử dụng đèn flash thay vì tăng độ nhạy sáng.
4. Khi chụp những bức hình có tính trừu tượng, nên tăng ISO để tạo một độ sần cần thiết, nhờ đó có thể khắc họa thần thái, cá tính của ảnh.
5. Đối với những ảnh chụp có kích cỡ vừa phải, không cần phải phóng to, người chụp có thể thoải mái lựa chọn ISO.
6. Chỉ nên điều chỉnh ISO khi chụp thủ công hay bán tự động. Đối với chế độ chụp tự động hay chế độ mặc định, độ nhạy sáng được thiết lập sẵn trong máy là thích hợp nhất và không cần điều chỉnh thêm.
7. Trong trường hợp đã vừa ý với thần thái của ảnh chụp, nhưng nhiều hạt quá mức, người chụp có thể khắc phục bằng phần mềm miễn phí có tên ND Noise hoặc các phần mềm khác – tìm trên Google với từ khóa “Noise Reduction Software.”
8. Để ISO ở mức 3.200 khi chụp pháo hoa.
 9. Đôi khi sau nhiều lần chụp và điều chỉnh ISO, người chụp thường quên thiết lập trở lại mặc định ban đầu của máy. Cách khắc phục kì quặc nhưng lại rất hữu hiệu là dán một mẩu giấy một ghi nhớ nhỏ dưới ống ngắm máy ảnh, giúp tự nhắc nhở sau mỗi lần chụp. Hoặc thay vì sử dụng các chế độ mặc định, có thể chụp hoàn toàn thủ công. Nhờ đó, người chụp có thể dễ dàng điều chỉnh ISO mỗi khi thay đổi khẩu độ và tốc độ cửa trập.
10. Một điều nên nhớ là luôn đặt ISO ở mức thấp nhất có thể. Bắt đầu với ISO 80 cho ánh sáng rực rỡ và 100 hoặc 200 khi ánh sáng yếu hơn. Người chụp có thể điều chỉnh ISO cao hơn nữa, nếu cần thiết, nhưng thường không quá 400 bởi độ nhiễu hạt tăng cao. Với điều kiện ánh sáng phức tạp, nên chọn chế độ chụp ưu tiên khẩu độ, sau đó điều chỉnh ISO theo khẩu độ.
11. Ngoài ra, khi chụp nên thử trước với nhiều thiết lập ISO khác nhau. Chụp nhiều bức hình với các độ nhạy sáng khác nhau, người chụp có thể chọn ra được bức hình ưng ý nhất. Đây cũng là một cách thực hành để cải thiện khả năng lựa chọn ISO thích hợp với những điều kiện ánh sáng nhất định.
12. Sau khi chụp, việc điều chỉnh tăng độ tương phản cho hình có thể phản tác dụng, khiến hình càng thêm sần, rạn. Để khắc phục, sử dụng các phần mềm giảm nhiễu đã để cập ở mục trên.
(Theo Dân trí) 

Quy tắc bố cục trong ảnh phong cảnh


Những quy tắc sau sẽ giúp bạn tránh được những bức ảnh phong cảnh "thiếu đầu thừa đuôi" hay không có mục đích cụ thể. > 5 mẹo nhỏ giúp chụp ảnh phong cảnh đẹp hơn
Những người mới chơi hay chọn phong cảnh làm đối tượng để "bắt hình" vì thể loại này phong phú về đề tài cũng như không yêu cầu quá cao trong kỹ thuật sử dụng thiết bị. Tuy vậy, họ thường gặp nhiều khó khăn khi tìm cách thu gọn vẻ đẹp của đối tượng vào khung hình.
Dưới đây là một số quy tắc cơ bản trong bố cục ảnh phong cảnh.
1. Đường chéo của ảnh
Đường chéo tạo điểm nhấn trên ảnh là cây cầu Cánh Cổng Vàng. Ảnh: Flickr.
Đường chéo tạo điểm nhấn trên ảnh là cây cầu Cánh Cổng Vàng. Ảnh: Flickr.
Đường chéo của ảnh thực chất chỉ là một đường thằng tưởng tượng do các vật thể trong khung hình vẽ ra, chẳng hạn một hàng cây, hàng rào hay bờ sông... Bố cục theo quy tắc đường chéo có thể là một cách rất tuyệt để thu hút sự chú ý của mắt vào đối tượng chính.

Thông thường, những đường chéo xuất phát từ góc ảnh này tới góc ảnh kia chia khung hình làm nhiều phần, đồng thời làm mắt rời sự chú ý khỏi khu vực trung tâm. Đưa đối tượng chính vào một góc ảnh sẽ giúp nhấn mạnh ý tưởng một cách hợp lý và hiệu quả nhất. Bố cục đường chéo theo chiều dọc và ngang cũng là phương pháp hay được sử dụng khi chụp đối tượng có quy mô lớn như hàng cây cổ thụ hay công trình kiến trúc.

Lưu ý rằng, một loạt đường chéo chạy theo nhiều hướng khác nhau (và giao nhau) có thể tạo nên điểm nhấn cho bức ảnh. Nhưng nếu số lượng này quá lớn có thể làm tác phẩm của bạn trở nên hỗn loạn và khó hiểu.

2. Dạng hình học
Tam giác phối cảnh trên ảnh bao gồm vòm cây và một con đường nằm tại chính giữa, người và chú mèo hơi lệch về hai bên. Ảnh: Flickr.
Tam giác phối cảnh trên ảnh bao gồm vòm cây và một con đường nằm tại chính giữa, người và chú mèo hơi lệch về hai bên. Ảnh: Flickr.
Ảnh phong cảnh thường cần những điểm nhấn để tạo nên sức hấp dẫn. Tuy nhiên, các điểm này cũng phải được bố trí theo một dạng hình học nhất định để tạo nên sự cân bằng cho khung hình. Ví dụ điển hình nhất là việc tạo nên một tam giác phối cảnh giữa ba vật thể, trong đó có một vật nằm ở trung tâm và hai vật còn lại phân bố hai bên. Phương pháp bố cục theo kiểu tạo dạng hình học thường rất khó áp dụng nhưng lại tạo ra hiệu quả cao khi muốn thu hút sự chú ý của người xem vào bức ảnh.
Người và hoa hướng dương nằm trong khu vực điểm gia cắt của các đường ngang và dọc. Riêng chân trời nằm khá sát đường ngang một phần ba phía trên. Ảnh: 3Joirn.
Người và hoa hướng dương nằm trong khu vực điểm gia cắt của các đường ngang và dọc. Riêng chân trời nằm khá sát đường ngang một phần ba phía trên. Ảnh: 3Joirn.
Để nhấn mạnh chủ thể của ảnh, người chụp luôn có xu hướng đặt đối tượng vào trung tâm khung hình. Kiểu bố cục đơn giản này khá hiệu quả khi chụp macro hay nhiếp ảnh đời thường. Tuy nhiên, với thể loại phong cảnh và chân dung, cách này có thể gây phản cảm vì chủ thể sẽ chiếm gần như toàn bộ khung hình và không thể hiện được chiều sâu bức ảnh.

Ta có thể khắc phục hiện tượng này bằng cách sử dụng quy tắc một phần ba. Cụ thể, khuôn hình sẽ được chia làm chín phần bằng nhau bởi hai đường kẻ ngang và hai đường kẻ dọc. Đặt chủ thể vào điểm giao cắt của các đường ngang và dọc sẽ tạo nên hiệu quả nhấn mạnh tốt nhất. Đa số máy ảnh hiện nay hỗ trợ việc chụp theo quy tắc một phần ba bằng cách hiển thị các đường kẻ grid lines trên màn hình LCD hoặc kính ngắm.

4. Tạo khung ảnh
Tạo khung ảnh bằng cách chèn thêm một bộ phận nhô ra phía trên khung hình, chẳng hạn một vài tán lá. Ảnh: Trustedreviews.
Tạo khung ảnh bằng cách chèn thêm một bộ phận nhô ra phía trên khung hình, chẳng hạn một vài tán lá. Ảnh: Trustedreviews.
Tạo khung ảnh (Framing Image) là kỹ thuật chặn một phần khung cảnh chính bằng các vật thể khác nằm tại rìa ảnh. Thông thường, các vật này nằm ở tiền cảnh, tức là gần vị trí đặt máy hơn chủ thể. Khung nền thường có nhiều hình dạng và kích cỡ, cũng không nhất thiết phải bao trọn lấy toàn bộ bức ảnh. Khung nền bố trí không tốt có thể gây cảm giác lộn xộn và chật chội. Tuy nhiên, với một chút khéo léo, bạn có thể tạo nên sự khác biệt nhờ chính sự lộn xộn đó. Cách bố cục phổ biến nhất trong nhiếp ảnh phong cảnh là chèn thêm một bộ phận nhô ra phía trên cùng khung hình, chẳng hạn như một tán lá hay một nhành cây khô...
5. Quy tắc sinh ra để bị vi phạm
Nhiếp ảnh phong cảnh luôn cần những ý tưởng mới lạ. Ảnh: Desktoprating.
Nhiếp ảnh phong cảnh luôn cần những ý tưởng mới lạ. Ảnh: Desktoprating.
Những quy tắc nhiếp ảnh đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành góc nhìn cho người cầm máy. Người chụp nên biết và nhớ để vận dụng chính xác trong các trường hợp khác nhau, tuy nhiên, không nên quá cứng nhắc và lạm dụng để tránh chụp phải những bức hình giống của người khác. Nếu có thể, hãy phá bỏ các quy tắc và vận dụng khả năng sáng tạo của mình để tạo ra những kiểu bố cục mới lạ.
Trần Hạ

Cách chọn bố cục trong ảnh phong cảnh

Trong nhiếp ảnh, sự tình cờ hay may mắn để có bức ảnh đẹp có thể sẽ không bao giờ xảy ra cho dù bạn cố công tìm kiếm. Người ta gọi đó là khoảnh khắc, khoảnh khắc của sự vô tình, không tính toán. Nhưng nếu bạn luôn trông chờ vào những khoảnh khắc như thế thì sẽ rất khó để tìm ra những bức ảnh đẹp theo đúng nghĩa. Tức là để có một bức ảnh đẹp, bạn phải biết tính toán và có sự sắp xếp bố cục.
 Bố cục ảnh phong cảnh
Khi có một máy ảnh, điều đầu tiên bạn chụp là chân dung: chân dung người thân, bạn bè hoặc của chính bạn, đó là dạng chân dung lưu niệm, không cần bố cục, bạn cứ việc đưa lên là bấm, nhưng khi bạn chuyển qua chụp cảnh vật thì lúc này có một vấn đề xảy ra, là bạn không biết bố cục thế nào cho đẹp. Sao mình đứng cùng góc độ với người kia nhưng họ lại chụp đẹp hơn… Phong cảnh thiên nhiên rất bao la, rộng lớn nên bạn bị choáng ngợp, không biết bắt đầu từ đâu. 
Đầu tiên bạn đừng chụp vội mà hãy tập quan sát, coi phong cảnh ở đấy có gì nổi bật. Tiếp theo, chọn hướng sáng cho hợp lý (thường chụp phong cảnh người ta chọn ánh sáng xiên vì nó làm nổi khối và dễ chụp với những người không chuyên). Sau đó, mới chọn góc độ chụp và điểm đặt máy. Trước khi bấm máy hãy nhớ những điều sau đây:
1. Không đặt chủ đề vào giữa tâm bức ảnh
2. Mọi bức ảnh chỉ có một và một điểm mạnh duy nhất
3. Hướng ánh mắt người xem đi từ ngoài vào trong bức ảnh
4. Đường cong chữ S là thủ pháp bố cục được ưa chuộng nhất
5. Đường chân trời không cắt ngang chính giữa mà phải nằm ở 1\3 trên hoặc 1\3 dưới.
 Bố cục ảnh phong cảnh 2
 Bức ảnh này hội đủ yếu tố về bố cục, điểm mạnh và đường chân trời.
Đường mạnh và điểm mạnh cũng là một yếu tố dẫn đến thành công cho bức ảnh. Điểm mạnh là khi chụp phong cảnh nhưng có thêm một điểm nhấn nào đó, thì bạn hãy đưa nó vào điểm mạnh, nhưng tuyệt đối không để điểm nhấn đó vào giữa tâm bức ảnh. Đối với đường mạnh thì khi chụp phong cảnh bạn tuyệt đối không đưa đường chân trời vào giữa bức ảnh. Bạn tuân thủ những điều trên thì dù bạn chụp bằng máy du lịch bạn vẫn có những bức ảnh đẹp để bổ sung cho bộ sưu tập ảnh của mình.


Chụp phong cảnh trong công viên.


Trong ảnh phong cảnh cái khó là chọn đối tượng có ý đồ và nội dung để làm tăng phần hấp dẫn, các bạn hãy tập quan sát, coi thử ý chính, trọng tâm mà mình muốn nói, muốn đưa vào bức ảnh. Bên cạnh đó, phong cảnh trong công viên không giống như ngoài tự nhiên vì đã có bàn tay của con người. Thấy chỗ nào cũng đẹp, song không biết chụp góc nào. Lúc đó bạn hãy coi cảnh vật nơi đó có gì chính, ví dụ một ngôi nhà, một cái cây lá vàng,…

 Bố cục ảnh phong cảnh 3
 Bức ảnh này thể hiện được chủ đề chính: Mùa thu sắp đến!
Những người mới bắt đầu cầm máy thường chụp những phong cảnh theo cảm tính, không theo nguyên tắc tỉ lệ. Bạn cố gắng hiểu và nắm bắt những yếu tố 
đôi khi không ai để ý, nhưng sẽ tạo hiệu quả bất ngờ. Lúc đó bức ảnh của bạn sẽ sâu hơn, có nội dung, có ý đồ và đôi khi bạn có thể tạo ra một tác phẩm nghệ thuật. Muốn có một bức ảnh đẹp, bạn phải thật kiên nhẫn và có lòng đam mê nghệ thuật.

“Săn” ảnh trong công viên thật nhàm chán vì nó quá quen thuộc, ngày nào cũng đi ngang đó, đôi khi còn ở trong đó hàng giờ. Nhưng bạn biết chọn góc độ chụp, một góc máy có bố cục độc đáo thì bức ảnh cũng có thể làm cho người xem ngỡ ngàng không hiểu bạn chụp ở đâu.


Chụp phong cảnh chùa


Nói đến chùa, chúng ta liên tưởng đến chốn linh thiêng, mọi sự ồn ào náo nhiệt không hiện diện ở đó. Cái khó khi chụp phong cảnh chùa là làm sao thấy được sự uy nghiêm bề thế của nó. Nhưng khi chụp chúng ta thường hay bối rối bởi chùa thường có những góc độ cố định, mặt tiền và bên trong nội thất, nếu chụp bên trong và ngoài như thế sẽ không đẹp.

 Bố cục ảnh phong cảnh 4
Bạn nên khai thác góc độ lạ, tập trung vào các họa tiết và đường nét. Những họa tiết này đánh dấu thời gian và sự trường tồn vĩnh cửu, liên quan giữa trời và đất. Đó là một yếu tố. Bạn tạo cho nó một dáng vẻ riêng, mỗi một góc độ đều có sự đầu tư và điểm nhấn.
Trong khi chụp nhiều lúc cao hứng bạn không để ý về bố cục, về nhà chúng ta sẽ cắt cúp lại cho vừa ý mình và đôi khi bạn cũng có thể photoshop để tạo ra hình ảnh bất ngờ.

Một yếu tố cơ bản nữa trong chụp ảnh phong cảnh đó là sự rung động của tâm hồn. Sau những giờ làm việc căng thẳng bạn thư giãn bằng cách đi du lịch đây đó và nhớ trong hành trang của mình đừng quên máy ảnh nhé.

Tóm lại, để có bức ảnh đẹp, ngoài yếu tố bất ngờ, bạn phải có một chút kiến thức cơ bản về nhiếp ảnh. Kỹ năng sử dụng máy (cho dù là máy du lịch). Có óc quan sát nắm bắt vấn đề một cách nhạy bén cùng lòng đam mê vô bờ bến cho môn nghệ thuật này.

Bố cục trong nhiếp ảnh – Những điều ta chưa biết




Như các cậu đã biết và chưa biết, bố cục trong nhiếp ảnh bắt nguồn từ hội họa. Tại sao lại bắt nguồn từ hội họa? Đơn giản vì hội họa … xuất hiện trước. Bài viết dí dỏm của bác o v e r s e a s cho chúng ta hiểu hơn về bố cục ảnh.
Như các cậu đã biết và chưa biết, bố cục trong nhiếp ảnh bắt nguồn từ hội họa. Tại sao lại bắt nguồn từ hội họa? Đơn giản vì hội họa … xuất hiện trước. Cũng giống như anh em con nhà nghèo quần áo còn tốt thì thằng anh chuyền xuống cho thằng em. Hội họa cũng thể hiện được bố cục, màu sắc, ánh sáng tại sao lại phải sinh ra cái chú em nhiếp ảnh? Tại vì nhiếp ảnh không chỉ có khả năng thể hiện hầu hết các yếu tố của hội họa mà còn thể hiện cùng lúc chỉ trong một cái nháy mắt. Có thể nói sức mạnh của nhiếp ảnh là ở yếu tố khoảnh khắc hay hơn nữa là tính lưu giữ, truyền tải thông tin, thời sự. Vậy bố cục nhiếp ảnh quan trọng như thế nào? Xin thưa là cực kì quan trọng, có thể nói là chỉ đứng sau yếu tố khoảnh khắc thôi. Ấy vậy mà trong mục nhiếp ảnh cơ bản chỉ toàn thấy bài vở về màu sắc, ánh sáng, hậu kì v.v và v.v … Tại sao bố cục trong nhiếp ảnh lại bị ít người để ý đến vậy? Xin thưa là do thị hiếu. Như thế nào thì chắc ai cũng rõ nên chẳng cần đi sâu vào làm gì. Bố cục không phải là quy luật phải tuân theo mà chỉ là phương tiện để khiến cho tác phẩm dễ chấp nhận hơn. Đỉnh cao của kĩ thuật bố cục chính là “không bố cục”. Do đó các cậu đừng nhớ đừng nhầm lẫn. Bức ảnh có bố cục tuân thủ quy tắc chỉ mang tính đúng chứ chưa hay.

Tại sao bố cục lại quan trọng đối với nhiếp ảnh? 
Trước hết phải làm rõ, bố cục nhiếp ảnh là gì? Là cách nhìn. Vâng, cách ta nhìn chứ không phải quy tắc vàng thị giác, không phải luật 2 phần 3 , không phải hướng chuyển động v.v và v.v… đâu. Mấy thứ đó chỉ giúp ảnh dễ nhìn dễ được khen và gây được sự chú ý thôi, không giúp cách nhìn thay đổi được đâu. Tuy nhiên để cho đầy đủ cũng nên bàn qua để thấy tại sao người ta gọi nó là “luật”. Luật do con người tạo ra để … phá. Qua một thời gian dài, quy tắc bố cục cơ bản được hình thành do kết quả của quá trình “quen mắt”. Nhìn cái gì nhiều sẽ thành quen mắt, cái gì quen mắt nhiều sẽ thành “quy luật thị giác”, khác đi sẽ gây khó chịu cho mắt. Gây khó chịu thì tất nhiên là không tốt rồi. Tất cả chỉ là quan niệm. Để thay đổi quan niệm, cần phải có sự hình thành một quan niệm khác. Việc này tớ chịu, cũng như các cậu tớ vẫn lặn ngụp với quan niệm cũ.

Các “quy tắc” của quan niệm cũ và ứng dụng:
Có rất nhiều các tài liệu hướng dẫn kĩ thuật bố cục và ảnh minh họa nhưng không có gỉai pháp ứng dụng. Ứng dụng thành công nhất của bố cục là nhấn mạnh nội dung hết mức. Ý tưởng của một bức ảnh bị bố cục tệ phá hỏng phần lớn. Do đó trước khi bấm máy cần phải tìm bố cục bằng các triển khai nhiều góc máy, vận dụng trí tưởng tượng và kinh nghiệm của những lần thử khác nhau để khi bấm máy là lúc đánh dấu kết thúc quá trình “nhìn”. Cái ảnh chỉ là kết quả của quá trình tìm tòi và phát triển khả năng nhìn, chụp thật nhiều ảnh ở nhiều góc máy khác nhau sẽ nâng cao kinh nghiệm và trí tưởng tượng.

Quan niệm “tỉ lệ vàng” và các tỉ lệ khác: 
Tỉ lệ vàng là vì nếu làm đúng theo sẽ tiết kiệm được thời gian và công sức tìm tòi mà vẫn được người xem công nhận là ảnh đẹp. Nếu việc được người khác công nhận ảnh đẹp là điều quý hiếm thì đây là tỉ lệ Vàng. Như các cậu đã biết và chưa biết, nếu chia khung hình hay khung ngắm làm 3 theo chiều dọc và chiều ngang thì có một hình đồng dạnh ở giữa. Bốn góc của hình này nếu đặt đối tượng vào thì đó được xem là yếu tố chính của bức ảnh. Chưa hẵn, chính hay không còn tùy thuộc vào các thành phần còn lại có gây phân tán sức tập trung của người xem đến chủ thể không. Điều này lại phụ thuộc vào tỉ lệ giữa yếu tố chính và các yếu tố phụ. Ví dụ:

Hình trên gồm hai yếu tố, chắc các cậu thấy ngay đâu là yếu tố chính và đâu là phụ. Vậy tại sao lại dễ nhận ra vậy? Đó là hiệu quả của tỉ lệ xa gần kết hợp với tỉ lệ Vàng. Tỉ lệ xa gần này được tạo nên bởi tận dụng trường ảnh của ống kính. Làm sao để tận dụng thì có quá nhiều bài vở rồi chắc không nên nói nhiều nữa.


Hình trên là kết hợp giữa tỉ lệ xa gần và lớn nhỏ.


Hình này còn nhiều tỉ lệ hơn, có xa gần, lớn nhỏ và hướng. 

Một tỉ lệ nữa cũng không kém phần phổ biến là 2/3. Nếu chia ảnh làm 3 phần thì đối tượng được đặt ở giữa hai phần sẽ nắm vai trò chủ thể. Kiểu tỉ lệ này thường được dùng như một giải pháp an toàn hơn là thể hiện ý tưởng. Ví dụ:
Vì tính đặc thù về thể hiện khoảng trống trái phải nhiều nên tỉ lệ này được dùng nhiều ở ảnh chân dung hay đời thường để nhấn mạnh hướng của nhân vật cả về chuyển động lẫn nội tâm.
Cuối cùng nhưng chưa kết thúc là bố cục cân đối. Đây là dạng bố cục dễ gây nhàm chán nhất chính vì tính cân đối của nó. Con người ưa thay đổi, mắt người cũng ưa sự mất cân đối nên mới sinh ra 2/3 hay tỉ lệ vàng để kích thích thị giác. Đây cũng chính là dạng bố cục kìm hãm sự vận dụng của các dạng tỉ lệ đồng thời giới hạn trí tưởng tượng của cả người chụp lẫn người xem.

Tất cả tỉ lệ đều góp phần xây dựng bố cục và bố cục quyết định tính rõ ràng của việc thể hiện ý tưởng. Tỉ lệ không nắm chắc dẫn đến bố cục hỏng và tất nhiên ý tưởng cũng không thể hiện được đến với người xem. Khi bố cục an toàn được vận dụng hết, đó là lúc nghĩ đến tạo tình thế bất an bằng cách phá cách bố cục cũ. Đây mới thực sự là điểm bắt đầu của cuộc chơi. Đã phá được rồi thì sẽ còn phá tiếp đến khi nhận ra sáng tạo là vô hạn.
Xin nhắc lại, tất cả chỉ là quan niệm, không có quy luật cho bố cục ảnh. Không có đúng hay sai trong bố cục khung hình. Chỉ có tìm tòi, thuộc để rồi quên thôi.
Phần sau có thể sẽ bàn về các cách phá bố cục và ảnh ứng dụng.
Bố cục như mình nói ở trên là đánh dấu cái nhìn của người chụp ảnh lúc bấm máy, cái tôi và tính cách người chụp hiện diện luôn ở cách chọn khung hình. Ví dụ thế này nhé, các cậu cho mấy em nhỏ mỗi đứa một cái máy chụp một lần rồi bảo ra phố thích chụp gì thì chụp, đảm bảo mỗi đứa có cái nhìn riêng vì nó hiện luôn trên ảnh. Cần nêu rõ luôn là chụp ảnh là cho riêng mình, lưu lại hình ảnh cuộc sống cho mình cùng lúc nâng cao quan niệm sống qua cái nhìn. Lại ví dụ, các cậu lúc mới bắt đầu thấy thích chụp ảnh đời thường sẽ chọn các cụ già, em bé bán vé số, người tàn tật làm đối tượng săn lùng vì muốn thể hiện nỗi thương cảm đến với người xem, vì sợ không ai đồng cảm. Dần dần khi quan niệm sống được nâng cao là lúc đứng xa hơn để tìm kiếm sự tương phản giữa từng cá nhân con người với xã hội xung quanh. Từng bức ảnh khi ra đời sẽ có ít người đồng cảm hơn vì đặt vào đó nhiều tâm sự và sự tìm tòi thay đổi hơn v.v và v.v…
Đây là bức ảnh nổi tiếng của James Nachtwey – nhiếp ảnh gia chiến trường, theo các cậu thì nó nằm ở dạng bố cục gì? Chẳng thuộc về bất cứ một quy luật nào trước đây cả. Còn sức mạnh nội dung thì sao? Tùy cảm nhận của các cậu. Tớ thì thấy khó có thể mạnh hơn.
Ứng dụng của tớ

Những nguyên tắc bố cục cổ điển (Tỷ Lệ Vàng)

- Đường chân trời ở 1/3 hoặc 2/3 chiều cao bức ảnh.
- Mỗi khuôn hình chỉ có một điểm mạnh, điểm này không đặt giữa ảnh mà phải ở toạ độ 1/3 rộng x 1/3 cao.
- Hướng ánh mắt người xem từ ngoài vào trong bức ảnh.
- Tận dụng nét lượn chữ S nếu có trong bối cảnh. 
Ai trong chúng ta cũng đều thích cái đẹp và hơn thế nữa chúng ta đều muốn mình tạo ra cái đẹp. Và một tác phẩm ưng ý, một tác phẩm đẹp là ước muốn không chỉ của các nhiếp ảnh gia mà của mọi người khi cầm máy ảnh để chụp ảnh.

Để trở thành một nhiếp ảnh gia với các bức ảnh để đời quả lá khó, nhưng để có được những bức ảnh đẹp thì cũng không khó lắm nếu ta nắm được các nguyên tắc nhiếp ảnh cơ bản nhất.

Xin giới thiệu với các bạn bố cục cơ bản trong nhiếp ảnh. Các nhiếp ảnh gia, nhà báo... trước khi có những tấm ảnh đẹp, để đời thì chắc chắn trong đầu họ cái bố cụ này đã nằm sẵn từ lúc nào.

Mời bác bạn xem tấm hình sau:



Quan sát hình trên ta thấy:
Hai dòng kẻ dọc và ngang chia hình thành 3 phần bằng nhau và gặp nhau tại 4 điểm.
Trong nhiếp ảnh ta gọi 4 đường đó là 4 đường mạnh và 4 điểm đó là 4 điểm mạnh. Hai đường nằm ngang còn gọi là hai đường chân trời.
Trong khi chụp hình người chụp phải cố gắng đưa chủ đề cần chụp vào gần hoặc trùng các đường mạnh, điểm mạnh trên.
Đây là bố cục căn bản nhất, bất cứ người chụp ảnh nào cũng cần phải ghi nhớ trong đầu để mỗi khi nhìn, ngắm chụp đều lôi ra để áp dụng.
Và dĩ nhiên là trong cả hội họa, điện ảnh, kiến trúc thì đây cũng là bố cục cơ bản nhất.


ví dụ:


Ngoài ra ta còn gọi hai đường ngang là hai đường chân trời. Khi chụp ảnh phong cảnh có đường chân trời thì ta đặt đường chân trời nằm gần hoặc ngay tại hai đường trên tùy ý đồ thể hiện của ta.
Ví dụ: Khi muốn thể hiện sự bao la của bầu trời, thì ta chọn đường dưới là đường chân trời.


 
1 bức ảnh là gì? Đó là 1 câu chuyện bạn muốn kể lại cùng những người xem ảnh. Vậy câu chuyện là gì? Là 1 lọat các câu liên kết với nhau. Ảnh cũng vậy. để tạo 1 bức ảnh, bạn không chỉ đơn thuần đưa máy lên chụp để có cái gì đó trong ảnh. Mà ấn tượng đầu tiên của người xem ảnh sẽ là sự cân bằng trong bố cục của ảnh.

Để tăng khả năng diễn đạt của bức ảnh, bạn có thể áp dụng các nguyên tắc bố cục ảnh trong quá trình chụp hoặc trong quá trình xử lý.
Có 3 nguyên tắc chính trong bố cục ảnh. 
  • Nguyên tắc 1/3: đã được nêu trong các bài viết trước
  • Nguyên tắc tỉ lệ vàng
  • Nguyên tắc đường chéo

Nguyên tắc tỉ lệ vàng (Golden Section rule)


Qua quan sát, người ta phát hiện ra rằng trong có 1 số điểm trong 1 bố cục ảnh thu hút sự tập trung của người xem ảnh hơn so với những điểm khác. Tương tự như vậy, rất nhiều vật trong tự nhiên cũng như vật do con người tạo ra theo 1 tỉ lệ nhất định tạo cho người xem cảm giác dễ chịu, thoải mái. Leonardo Da Vinci đã nghiên cứu rất kỹ nguyên tắc tạo nên sự hài hòa và đẹp và đặt tên cho nó là Tỉ Lệ Vàng. Thật ra từ trước khi Leonardo đưa ra khái niệm Tỷ lệ vàng này, người Babylon, Ai cập và Hy lạp cổ đã áp dụng con số này rất phổ biến trong các công trình kiến trúc hoặc các tác phẩm nghệ thuật (bạn có thể xem thêm tác phầm Da Vinci Code của Dan Brown để xem cách kiến giải của ông về vấn đề này – ND)

Để cảm nhận cụ thể hơn về những điểm đặc biệt theo nguyên tắc bố cục của Tỷ lệ vàng, hãy tưởng tượng 1 bức ảnh được chia thành 9 phần không đều nhau bằng 4 đường thằng. Mỗi đường được vẽ sao cho tỷ lệ giữa chiều rộng của phần diện tích nhỏ hơn của bức ảnh và chiều rộng của phần có diện tích lớn hơn bằng đúng tỷ lệ giữa chiều rộng của phần có diện tích lớn hơn và chiều rộng của cả bức ảnh. 4 giao điểm của 4 đường thẳng nói trên được gọi là 4 điểm vàng của bức ảnh.


Nguyên tắc đường chéo


Mỗi cạnh của 1 bức ảnh đều được chia làm 2 phần đều nhau và mỗi phần nhỏ lại tiếp tục được chia thành 3 phần đều nhau. Làm tương tự cho cạnh kế bên, ta sẽ nối điểm mốc trên để tạo thành 1 khung dọc theo đừơng chéo của khung ảnh. Theo nguyên tắc bố cục này, các thành phần quan trọng của bức ảnh nên được đặt trong khung vừa được xác định ở trên để tạo sự chú ý tốt nhất của người xem ảnh.

Những thành phần dạng đường thẳng như con đường, dòng nước, hàng rào khi đặt theo đường chéo sẽ tạo cho bức ảnh tính động (dynamic) cao hơn nhiều so với khii đặt chúng theo chiều ngang.



Nhiếp ảnh cơ bản: Bố cục
Nhiếp ảnh cơ bản: Bố cục

Nguồn: TINHTE.COM 

Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2012

Tác phẩm nghệ thuật siêu "khủng" từ đồ bỏ đi


Anh Kris Kuksi sinh ra ở Springfield, Missouri, Mỹ và sống trong một gia đình bình thường cùng với cùng với mẹ, 2 anh trai cộng thêm một người bố dượng nghiện rượu. Nhưng điều này không làm ảnh hưởng  hay mất đi sự sáng tạo không ngừng của anh.

Từ khi còn là một đứa trẻ anh Kris Kuksi đã mong muốn tạo ra những tác phẩm nghệ thụât tầm cỡ, anh đã sử dụng những đồ chơi hay máy móc cũ kết hợp cùng với sự khéo léo tài tình của mình để tạo ra những tác phẩm đẹp tuyệt vời. Tác phẩm của anh gây ấn tượng mạnh và rất thu hút, chúng ta dễ dàng bị choáng ngợp trước chúng. Thật không thể tin được là chúng lại được tạo ra từ những thứ bỏ đi.

Những tác phẩm của anh được rất nhiều người yêu thích và ngưỡng mộ, thậm chí những nhân vật nổi tiếng tầm cỡ như Mark Parker (CEO của Nike), Chris Weitz (nhà sản xuất của các bộ phim như American Pie và The Golden Compass)… đều sỡ hữu tác phẩm của anh.

Chúng ta cùng chiêm ngưỡng những tác phẩm siêu "khủng" của anh Kris Kuksi nhé!







Một chiến hạm?


Sự kết hợp của xe tăng và những ngôi nhà.











PV st.

Tuyển tập giang hồ Sài Gòn - Lâm Chín Ngón


Huyền thoại giang hồ Sài Gòn - Lâm Chín Ngón

Lê Ngọc Lâm, tự Lâm "chín ngón", chở vợ và con trai 6 tuổi đi ăn tối trên đường Sư Vạn Hạnh nối dài (quận 10, TP HCM). Anh ta vừa dừng xe cho vợ con bước xuống thì bất ngờ một thanh niên nhảy xổ tới, tạt thẳng một ca axít vào mặt Lâm. Hét lên một tiếng, Lâm ngã xuống mặt đường quằn quại.

Sự việc xảy ra lúc 20h ngày 14/7/1999 làm Lâm cháy toàn bộ khuôn mặt, hai tai và mũi rụng, cằm chảy ra dính chặt vào ngực. Hai mí mắt cũng chảy ra dính vào nhau, bịt kín con mắt. Tuy qua nhiều lần phẫu thuật chỉnh hình, lột toàn bộ da mông, đùi đắp lên mặt, nhưng mặt Lâm vẫn biến dạng hoàn toàn. Hai mắt gần như loà hẳn, với hai hốc mắt nhỏ xíu được mở nhân tạo. Mỗi lần lấy ngón tay ấn lên, những giọt nước đục như nước gạo từ hố mắt lại ứa ra.

Bị hại, nhưng Lâm "chín ngón" vẫn không cho gia đình báo công an. Trước sau, anh ta chỉ một mực cho rằng tai vạ hôm nay chính là nghiệp chướng mà anh ta đã vay thì phải trả.

Mọi con đường đều dẫn đến... nhà tù

Lê Ngọc Lâm sinh năm 1945 tại Hà Tây, theo gia đình di cư vào Sài Gòn năm 1954. Ba năm sau, những biến cố thời cuộc làm gia đình tan nát, Lâm phải vào Cô nhi viện Thủ Đức khi mới 12 tuổi. Được một thời gian, Lâm trốn khỏi cô nhi viện, nhập vào đám bụi đời, bán báo trên hè phố Sài Gòn. Cô nhi viện dạy cho Lâm biết chữ, còn lề phố dạy cho Lâm biết... đánh lộn để giành mối, cạnh tranh. Những cuộc đụng độ xảy ra như cơm bữa đã biến Lâm thành một người ngang tàng và rất lỳ đòn.

Năm 1963, Lâm thi hỏng tú tài và bị bắt vào quân dịch nhưng đã trốn về Sài Gòn sống lang thang, sau đó gia nhập nhóm bụi đời ở khu Da Heo, đường Nguyễn Công Trứ, quận 1 do Đại Cathay cầm đầu. Vốn liều lĩnh và to khoẻ, anh ta nhanh chóng trở thành một trợ thủ đắc lực của Đại Cathay trong các trận chiến phân chia lãnh địa. Năm 1964, một cuộc tranh hùng như vậy đã chém mất một ngón tay của Lâm. Biệt hiệu Lâm "chín ngón" ra đời từ đó, do chính Đại Cathay đặt. Tháng 11/1966, băng Đại Cathay bị cảnh sát ngụy bắt đày ra đảo Phú Quốc. Tại đó, Đại Cathay tổ chức vượt ngục và mất tích. Lâm "chín ngón" bị bỏ lại, ngồi tù thêm nửa năm thì được thả.

Trở về Sài Gòn, Lâm chuyển sang nghề "ăn bay" (cướp bằng xe máy) và nhanh chóng trở thành một "quái bay". Sử dụng xe Honda 67, loại xe tốt nhất thời bấy giờ, Lâm "chín ngón" đã gây ra hàng chục vụ cướp giật với những người vừa lĩnh tiền ngân hàng đi ra. Trong một lần "ăn bay" cuối năm 1970, Lâm bị cảnh sát ngụy bắt tại trận và bị tống vào trại giam Chí Hoà. Tại đó, Lâm đã được hội ngộ với hầu hết những "tay chơi cộm cán" nhất của Sài Gòn.

Thời hai tay ba đao

Vào thời gian đó, bộ máy cảnh sát, nhà tù của chế độ ngụy Sài Gòn gần như bó tay trước nạn lộng hành của đám lưu manh, du đãng được hỗ trợ bởi ma tuý bán đầy rẫy và rẻ như bèo. Lúc cao điểm, trại Chí Hoà có khoảng 2.000 tên tù hình sự thì cũng gần như ngần đó con nghiện. Vì vậy, bán ma tuý, thuốc phiện đem lại cho các "ông trùm" một nguồn lợi có thể lên tới 20-25 lượng vàng/ngày. Số vàng này khiến chúng vây bè, kết cánh hùng cứ quyền bán ma tuý ở các dãy buồng giam, tranh giành lãnh địa, hoặc hạ bệ nhau, nhằm ngoi lên làm ông trùm để độc quyền thu lợi. Là "đàn anh", như Lâm "chín ngón" ở dãy FG, tuy có thể tự do đi lại giữa các dãy nhưng lần nào cũng phải có vài ba vệ sĩ tháp tùng, nếu không ăn đao là cái chắc. Mỗi khi tham chiến, những tên du đãng này đều hai tay nắm chắc hai con dao. Con thứ ba giắt ngang bụng, phòng khi dao trên tay bị đánh rơi hay bị đối phương tước mất. Hỗn danh "thời hai tay ba đao" bắt nguồn từ đó, để chỉ giai đoạn 1970-1974 trong trại giam Chí Hoà.

Là cánh tay phải của Đại Cathay, từng đâm trầy mặt và hạ bệ "tướng cướp cô đơn" Điền Khắc Kim để giành địa vị ông trùm, Lâm "chín ngón" trở thành một "cao thủ" được độc quyền bán thuốc phiện ở khu FG, đồng thời trở thành đại lý cung cấp loại "hàng đen" này cho toàn bộ trại Chí Hoà. Quyền khai thác "hàng trắng" ở dãy này thuộc về Chương "khùng", một tên giang hồ có số khác, kẻ từng dẫn đầu hàng chục tội phạm người Việt xông vào khu AB cướp thùng đựng tiền của đám tù nhân người Hoa gốc Hong Kong, Ma Cao, Đài Loan... và bị chém trọng thương. Đúng định kỳ, hàng đen từ bên ngoài được gửi vào "thăm nuôi" Lâm "chín ngón". Cai tù biết nhưng làm ngơ để được chia 30% lợi nhuận.

Khoảng giữa năm 1972, đám con nghiện đâm đầu sang mua "hàng đen" khiến thu nhập của Chương "khùng" tụt xuống nhanh chóng. Đàn em của Chương bỏ đi phò Lâm "chín ngón". Chương tức giận, chửi bới om sòm. Một tên "ngang cơ" khác là Năm Lương đổ thêm dầu vào lửa: "Mày chỉ giỏi võ mồm. Thừa biết thằng nào hạ bệ rồi, mày có giỏi thử đụng đến nó coi".

Án mạng bất ngờ

Bị kích động, Chương khùng nổi cơn. Hắn lấy bộ đồ võ vận vào người rồi nuốt 3 viên Renoval để thêm dũng khí, hằm hằm tuyên bố: "Tìm thằng Lâm chín ngón nói chuyện cho phải quấy". Nghe đàn em cấp báo, Lâm đang chơi bóng chuyền ở sân trại liền dừng ngay để đợi. Gặp nhau, Lâm hỏi trước: "Chương! Nghe nói mày đòi dẹp. Mày bảnh thì chơi lại tao coi".

Đang uống nước, sẵn ly cầm trong tay, Lâm "chín ngón" ném ngay cái ly uống dở vào mặt Chương khùng và nhào tới. Quá bất ngờ vì không nghĩ tới chuyện đối thủ phản ứng quá mạnh, lại thấy đàn em của Lâm kéo tới khá đông, Chương "khùng" vội né người tránh ly nước đập vào mặt rồi... bỏ chạy, mặt mũi hầm hầm.

Ở khám Chí Hòa lúc đó có Cương "võ sĩ", tức Vũ Đình Cương, vốn là võ sĩ quyền anh có đẳng cấp, từng nhiều lần thượng đài khắp miền Trung - Nam và Campuchia, nếu đấu tay đôi sòng phẳng, cỡ Lâm "chín ngón" hoàn toàn không phải là đối thủ. Năm 1970, Cương bị bắt vì tội buôn bán ma tuý. Lại là em ruột của Vũ Đình Sơn trùm ma tuý ở Sài Gòn thời bấy giờ nên Cương được đám giang hồ phong làm "đại ca của các đại ca", toàn quyền sắp đặt, sai phái toàn bộ giang hồ trong trại Chí Hoà. Khi các băng nhóm xích mích, chỉ cần Cương nói một vài lời là tất cả đều răm rắp tuân theo.

Sự việc xảy ra lúc Cương "võ sĩ" đang tụ tập với mấy tay anh chị trong dãy BC. Thấy Chương "khùng" vừa chạy qua vừa khóc, Cương bèn ngăn lại hỏi. Chương tố láo: "Thằng Lâm ỷ đông, kéo đàn em đến đòi xử tôi, cấm không cho tôi bán ma tuý nữa". Nghe tới đó, máu "yêng hùng" nổi lên, Cương bèn dẫn nửa tá dân anh chị sang khu FG để "hỏi tội thằng Lâm".

Phần Lâm "chín ngón", đang lúc đấm thình thình vào tường buồng giam 3F4, dọa "luộc thằng Chương", thì được một tên đàn em cấp báo: "Anh Lâm cẩn thận, anh Cương đang dẫn người qua tìm anh đó". Vừa nói, tên này vừa giúi vào tay Lâm mấy con dao lá lúa, dặn: "Anh cầm theo để phòng thân". Lâm bảo "một dao đủ rồi" và chạy ra nghênh tiếp. Khi hai bên đứng đối diện nhau, Cương võ sĩ hỏi: "Lâm! Ở đây, mày với tao, ai là đàn anh?". Lâm chưa kịp mở miệng đã bị Cương tung ngay một cú thôi sơn vào mặt. Nhanh mắt, Lâm né đầu tránh được. Cú đánh khá mạnh nhưng không trúng mục tiêu khiến Cương võ sĩ hụt đà chúi thấp đầu về phía trước. Lợi dụng phút này, Lâm "chín ngón" nắm ngay cổ áo địch thủ lật lên và quơ tay ra sau lưng rút dao... Tất cả diễn ra quá nhanh nên không ai kịp can. Cương chỉ kịp "hự" lên một tiếng rồi ôm ngực vật ra sàn. Nghe ai đó kêu lên: "Anh Lâm, đừng đâm nữa", tên hung đồ mới sực tỉnh. Nhát dao đâm trúng tim, Cương võ sĩ chết ngay tại chỗ. Lâm "chín ngón" mặt tái mét, vội thanh minh trước khi bị dẫn đi: "Tôi không cố ý, tại anh Cương... Thôi, anh em thắp cho ảnh mấy nén nhang giùm tôi".

Sau tai nạn, Lâm trở thành một con người khác hẳn, không nói, không cười, chỉ ở lì trong căn nhà mà ngoài vợ con không ai biết địa chỉ. Anh ta một mực bảo rằng, cuộc đời Lâm chín ngón coi như đã hết và Lâm cũng không hề có ý định sẽ trả thù theo kiểu ân oán giang hồ như anh ta đã từng làm trong hàng chục năm qua.

Bị Lâm giết mất em ruột là Cương võ sĩ, Vũ Đình Sơn, tức Sơn đảo, tay buôn ma tuý có hạng cộng với những "chiến tích" nửa thực, nửa bịa mang về từ 5 năm ngồi tù tại Côn Đảo, lồng lộn lên. Y tuyên bố: "Sẽ lấy mạng thằng Lâm bằng bất cứ giá nào".

Kẻ báo thù đầu tiên được Sơn chọn là Tuấn đả (quê Hộ Hải, Ninh Hải, Ninh Thuận). Khi bị bắt giam tại quân lao Nha Trang, Tuấn từng đâm lòi ruột Sơn trắng, sếp sòng quân lao này, để tiếm quyền. Máu liều Tuấn có thừa, nhưng y khó chơi tay đôi mà thắng được Lâm chín ngón. Sơn chỉ có nước tuồn "chó lửa" vào tù để Tuấn hạ Lâm. Nhưng do cảm kích vì từng được Lâm đứng ra bảo lãnh, giúp thoát khỏi trận đòn hội đồng của toàn thể đám đàn anh ở trại tạm giam Chí Hoà khi vừa mới chuyển đến, nên Tuấn đã từ chối "hợp đồng" mà Sơn đảo nhờ, kèm lời giải thích: "Anh Đại (Đại Cathay) gọi nó là Lâm điên, gọi tao là Tuấn khùng. Không lẽ thằng điên đi bắn thằng khùng".

Mất gần cả năm trời, Sơn mới tìm được người thay Tuấn . Gã này tên là Nguyễn Văn Hoàng, tự Hoàng đầu lâu (theo hình xăm trên bả vai). Nói về võ nghệ, cả trại Chí Hoà không ai sánh kịp Hoàng. Mang đai đen tứ đẳng Taekwondo, Hoàng đã từng hạ hàng chục cao thủ cả Việt lẫn Miên trên sàn đấu. Biết vợ con Hoàng đang sống khó khăn, Sơn bèn bỏ tiền mua một căn nhà mặt phố nhỏ đem tặng, sau đó lại sang một sạp vải ở chợ cho vợ Hoàng đứng bán, làm kế sinh nhai... làm Hoàng tối mắt gật đầu bán mình. Khổ nỗi, trong giới giang hồ Hoàng chỉ thuộc hàng "chiếu dưới", án tù cũng nhẹ, không thể "ngồi cùng mâm" với Lâm chín ngón, để có cơ hội tiếp cận và hạ sát địch thủ. Nhằm tạo cơ hội cho Hoàng, Sơn đã tốn công vạch ra một kế hoạch chi tiết nhằm giúp Hoàng... tăng án, "được" ngồi biệt giam, đồng thời nâng uy tín trong làng dân chơi chứ không vì tăng án mà gây thù hằn, xích mích với một kẻ nào khác.

Trong trại Chí Hoà có một cai ngục là trung sĩ Cách, cháu ruột gọi phó giám thị trại bằng cậu. Ỷ thế, tên này rất "bố láo", luôn tìm cách ăn chặn, phá phách đồ thăm nuôi của tù nhân. Đám tù rất ghét nhưng không tên nào dám ra tay. Một hôm, sau khi nghe các "đàn anh" ta thán, Hoàng đầu lâu xung phong: "Để em thịt nó cho". Kỳ thăm nuôi đến, khi Cách đang xăm soi hũ thịt rim, bẻ đôi từng cái bánh để khám xét thì một tên tù tự giác đến rót vào tai hắn: "Trung sĩ, có người muốn gặp riêng". Tưởng được hối lộ, Cách bỏ ngay việc theo tên cò đi vào phía trong. Không ngờ, Hoàng đã núp sẵn. Ngay khi Cách bước vào liền cầm thanh mã tấu nhằm mặt chém đứt lỗ mũi của tên trung sĩ. Máu xối ra, Cách ôm mặt quằn quại...

Với chiến tích này, Hoàng đầu lâu nghiễm nhiên trở thành "dân chơi thứ thiệt", được giới giang hồ kiêng nể. Trong khi đó, tội nặng thêm, y bị tống xuống khu biệt giam. Ở ngoài, Sơn lại vung tiền lo lót với giám thị, cai tù. Kết quả là hai tháng sau, Hoàng đã ôm giỏ đồ của mình chuyển sang ở cùng một buồng giam với Lâm chín ngón. Kinh nghiệm sống và những lời thì thào to nhỏ trong đám giang hồ đã giúp Lâm thừa biết Hoàng sắp làm gì, nên cũng âm thầm chuẩn bị.

Nhờ đàn em bên ngoài kiếm cho một chiếc quai đeo ba lô hình chữ X bằng inox cho vào quả bí đỏ chuyển vào tù, Lâm mài mỏng thành con dao nhọn hoắt. Sau đó nhờ người mua hộ một chai rượu Remy Martin mời Hoàng uống. Say rượu, Hoàng lăn ra ngủ. Lâm bèn bảo Lý "lắc", cậu bé ở chung buồng giam chuyên phục vụ trà nước đấm bóp cho Lâm đun nồi nước tắm. Khi nước sôi sùng sục, Lâm bê nguyên cả nồi đổ ụp xuống mặt Hoàng. Hoàng thét lên, quằn quại, nhưng không thấy đường để chạy. Rút dao đã chuẩn bị sẵn, Lâm đâm lên hồi vào người Hoàng mặc cho tên này van xin. Chỉ đến khi Hoàng đầu lâu cong người lên, ngáp ngáp mấy cái nằm im, Lâm mới ngừng tay. Tất cả 37 nhát. Lý "lắc" kinh hoàng đứng nép vào góc tường bưng mặt so vai mà không dám khóc. Cuộc giằng co xảy ra khá nhanh và bất ngờ. Khi Lâm đập ầm ầm vào cửa sắt báo mình đã giết người, viên cai ngục đang ngủ gật vẫn không tin. Lúc chạy vào, nhìn xác Hoàng hoen máu nằm thẳng đơ trên nền gạch, viên cai ngục mới thất kinh hỏi: "Sao mày giết nó?". Vứt dao, Lâm đứng thừ người: "Tôi không đâm nó, nó cũng giết tôi".

Lâm chín ngón lại bị tống vào biệt giam. Ở ngoài, Sơn đả vẫn lồng lộn. Nhưng chưa kịp nghĩ ra cách giết Lâm thì chính Sơn lại bị giết chết. Cũng như em ruột là Cương võ sĩ, Sơn bị hạ vì sĩ diện và bỏ mạng bởi đàn em: Phạm Bá Y, tức Y cà-lết.

Nghiệp chướng của một ông trùm

Sau năm 1975, với những tội lỗi đã gây ra, Lâm chín ngón tiếp tục phải sống một thời gian dài trong nhà tù của chế độ mới, chuyển qua nhiều trại giam từ Chí Hoà đi Côn Đảo, về trại cải tạo Cà Mau (năm 1977), sang trại Z30D Hàm Tân, Bình Thuận (năm 1982), lại chuyển qua trại Phú Sơn, Phú Khánh. Năm 1988, sau hơn 20 năm tù tội, Lâm được trả tự do, trở về TP HCM, làm đủ nghề kiếm sống. Năm 1993, Lâm cưới vợ và sinh con, lo chí thú làm ăn, mong muốn đoạn tuyệt hẳn với giới giang hồ.

Nhưng nghiệp chướng đã trót đeo đẳng, chưa chịu buông tha cho Lâm "rửa tay gác kiếm", an phận với cuộc hoàn lương. Một ngày cuối năm 1994, gặp 3 tên giang hồ mới nổi là Trúc lùn, Khải nheo, Tùng nhĩ ở quán thịt chó, Lâm đã nhận lời xuống vũng Tàu đòi Minh Samasa phải tìm cách lấy lại xe máy cho đàn em. Nguyên do là vợ chồng Đức năm nghệ - Sương L'Amour nhận lời cho đàn em xuống Vũng Tàu giúp Minh Samasa đuổi đánh đối thủ cạnh tranh là Phước đầu lâu, Hải lộ. Sau cuộc hỗn chiến, bọn Trúc và một số tên ở lại phá phách, bị công an tạm giam và tịch thu xe máy.

Khi xuống Vũng Tàu, Lâm được Minh đón tiếp niềm nở, đồng thời tổ chức nhiều chuyến ăn chơi du hí, rồi mời hợp tác làm ăn. Thấy nguồn lợi quá lớn (đám Dũng ba lém, Minh samasa tên nào cũng giàu sụ), Lâm chín ngón đồng ý. Sự có mặt của Lâm ở Vũng Tàu đã khiến cho các nhóm lưu manh khác khiếp vía, dạt ra hết, tạo điều kiện cho tụi Dũng, Minh độc chiếm cảng cá, tha hồ nâng hạ giá, bán mua tuỳ ý để làm giàu. Đổi lại, Lâm chỉ việc chường mặt ra cảng nhưng không phải mó tay vào bất cứ việc gì. Mọi chi phí ăn uống chơi bời đều được "bao cấp", kèm sổ lương 5 triệu đồng/tháng. Minh và Dũng còn sắm cả xe máy cho Lâm để "đàn anh tiện đi lại làm việc".

Thấy đất Vũng Tàu làm giàu quá dễ, Lâm nảy ra ý đồ làm ăn riêng, quyết không để đám tài phiệt cảng cá "lợi dụng tên tuổi mình mãi". Ngay sau khi Lâm tuyên bố dự định này, lũ đàn em liền tức tốc gọi vợ chồng Đức - Sương xuống Vũng Tàu, gây áp lực để đuổi Lâm. Tuy "có số có má", nhưng thân cô thế cô, không đương đầu nổi với liên minh tài phiệt kia nên sau vài tháng "chiến tranh", Lâm chín ngón ngậm ngùi chạy trối chết khỏi Vũng Tàu để giữ mạng sống và "giữ tiếng trong giới giang hồ".

Hai năm sau, Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ra quân xoá sổ nạn bảo kê lộng hành trên các cảng cá ở đây. Minh samasa và nhiều tên trong đám tài phiệt cùng nhau vào tù. Thấy vậy, Lâm lại rắp tâm quay lại độc chiếm cảng cá, nhưng cũng không xong do Đức năm nghệ bắn tin: "Nếu Lâm chín ngón mò xuống Vũng Tàu, mạng sống của Lâm và gia đình sẽ không được bảo đảm". Thấy trước không chơi được, Lâm đành tạm bằng lòng với vị trí ông chủ quán thịt chó, sáng chở con đi học, tối đón con về.

Mọi chuyện tưởng chừng đã yên, bất ngờ tai vã bỗng chụp lên đầu Lâm chín ngón. Nhưng anh ta không hề có ý định trả thù và luôn cho rằng, kể từ nay, Lâm chín ngón không còn tồn tại nữa. Đúng hơn, trong giới giang hồ không còn hiện hữu cái tên Lâm chín ngón

Tuyển tập giang hồ Sài Gòn - Đại CaThay




Huyền thoại giang hồ Sài Gòn - Đại CaThay

Ngay cả đám giang hồ cộm cán, đám đàn em tin cẩn cũng không ai biết hắn con ai, tên thật là gì. Chính Đại Cathay cũng… không biết tên thật của mình nốt. Hơn chục lần bị điệu về bót cảnh sát, Đại tự khai cho mình hơn chục lai lịch khác nhau. Theo đó, cha của hắn lúc là Lên Văn Cự, lúc lại là Trần Văn Trự… Mẹ của Đại Cathay cũng khá… nhiều tên, lúc là Hương, lúc là Duyên, sống hay chết thì “có trời mà biết”. Nói tóm lại, như Đại Cathay thường tự nhận, gã là một thằng… con trời có lẽ xuôi tai hơn cả.

Kì thực, Đại tuổi Thìn, sinh năm 1940. Theo tìm hiểu của chúng tôi, mẹ của Đại tên gì không rõ, chỉ biết người xung quanh thường gọi là bà Sáu. Còn cha Đại thì chính tên là Lê Văn Cự, vốn cũng là một tay giang hồ hảo hớn ở khu vực chợ Cầu Muối. Sau năm 1945, Hai Cự tham gia kháng chiến, trở thành lính của “Mười ban tự vệ công tác thành”, sau đó bỏ vào chiến khu rừng Sác đầu quân vào bộ đội Bình Xuyên của thủ lĩnh Ba Dương (tức Dương Văn Dương). Đại sinh ra giống cha như đúc nhưng tuổi thơ rất ít được gần cha. Thuở nhỏ, gã sống với cha mẹ ở đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội (nay la Đoàn Văn Bơ Quận 4). Cả cha lẫn mẹ của hắn đều nghèo, làm nghể chẻ củi thuê cho một vựa củi nằm bên kia Cầu Mống, cạnh chợ cũ, Quận 1. Đại thường xuyên trốn học chạy sang chơi vơi đám trẻ con bụi đời cạnh vựa củi. Hiền lành, ít nói, dù khuôn mặt rất ngầu, tính phóng khoáng, lại rất "lì đòn", những đức tính được "thừa kế" đầy đủ từ cha đã giúp Đại nhanh chóng được đám trẻ đồng cảnh mến mộ. Mới 10 tuổi, gã đã thường xuyên luồn lách vào các chợ, sạp hàng xung quanh, ăn trộm dưa, chuối về chia cho chúng bạn. 

Sau 1945 cha Đại tham gia kháng chiến và bị bắt vào cuối năm 1946, bị đày ra Côn Đảo và ít lâu sau thì chết. Cha mất, mẹ lấy chồng khác. Bố dượng là 1 tay máu me cờ bạc, lại nghiện thuốc phiện năng nên gia sản dần dần biến hết. Cáu bẳn vì sinh kế, ông dượng thường nọc đứa con riêng của vợ ra hành hạ để hả cơn bực tức. Không chịu nổi, Đại bỏ học hẳn, sang vườn hoa Cầu Mống đánh giày, bán báo tự nuôi thân. Khu vực làm ăn của Đại là xung quanh ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) – Nguyễn Công Trứ. Tại đó có 1 rạp chiếu bóng tên là Cathay. Không ngày nào trước cửa rạp hát không xảy ra những vụ đánh lộn giành khách giữa đám trẻ bụi đời. Lì lợm và liều lĩnh, Đại cứ lăn xả vào đối thủ liên tục tấn công, dù kẻ đó có cao hơn nửa cái đầu cũng mặc. Trăm lần như một, Đại luôn là kẻ chiến thắng, dù tay chân mặt mũi đầy vết rách bầm. Nghiễm nhiên, hắn trở thành thủ lĩnh của đám nhóc tì du thủ du thực trong khu vực. Cũng nghiễm nhiên, gã được quyền ráp thêm "tên đất" vào sau tên cúng cơm để trở thành Đại Cathay, "đại ca" đường Nguyễn Công Trứ. Đó là năm 1954 lúc Đại mới 14 tuồi. 

Trở thành "anh chị", Đại được quyền sống mà không mó tay vào bất cứ việc gì. Hắn vẫn đóng thùng đánh giày, nhưng là để giao cho đàn em "đi làm" mang tiền về nộp. Mỗi buổi sáng, hàng chục thiếu niên Ba Binh, Ba Tướng, Ba Gà ( hỗn danh để gọi đám trẻ du đãng chưa có tên tuổi. Ba Binh là quân sư, Ba Tướng là những thằng trực tiếp đi đánh nhau còn Ba Gà là những tên thuyết khách) cả trai lẫn gái tụ tập quanh Đại Cathay nhận công việc và địa bàn do hắn cắt cử, sau đó túa đi, chiều lại đem tiền về cho Đại. Được cái, hắn rất hào phóng, Đại Cathay chia hết tiền cho đàn em, chỉ giữ lại cho mình 1 khoản nhỏ, đủ cà phê, thuốc lá cho ngày kế tiếp. Những đàn em không may bị ế báo, bị mưa ước thuốc, kẹo phải đền tiền, Đại Cathay cũng không chửi bới, đánh đập như những tên "chăn chíp" tham lam khác mà còn lấy của đứa "trúng mánh" cho thêm. Vì vậy, đàn em rất khoái và chị nghe lời "anh Đại". Tình trạng đánh lộn, tranh giành khách trong khu vực của Đại Cathay được dẹp yên. 

Nằm ngay cạnh khu vực của Đại Cathay là bót cảnh sát quận Nhì, thường được gọi là bót Dân Sinh, nổi tiếng dữ dằn. Rất nhiều lần, sau khi dẫn đàn em đi chinh phạt các khu vực khác hoặc đánh dằn mặt người của các băng nhóm đến giành lãnh địa, Đại Cathay đã bị các công cò bót quận Nhì xách tai lôi về bót. Hăm dọa, tát tai, đá đít đủ kiểu, thằng nhóc vẵn trơ trơ không chịu khai tên tuổi những đàn em tham gia ẩu đả, đám mã tà phú lít lại đành thả Đại về. Hết thuốc, các ông cò nảy ra đòn độc để trị Đại Cathay, bắt đàn em của đại đứng xem. Chúng bắt thằng nhóc quỳ giữa sàn nhà, hai ông cò hai bên xốc ngược tay Đại lên, cạy mồm, thả vào một con gián sống. Con vật lập tức chui tọt vào cổ họng lao thẳng xuống dạ dày. Ngứa ngáy, kinh tởm và nhột không chịu được, Đại Cathay ói ra mât xanh, mật vàng. Đám Ba Binh, Ba Tướng xung quanh lè mắt, có đứa hét lên ngất xỉu và đái ra quần. Đại Cathay, sau một hồi nôn thốc nôn tháo, bắt đầu trấn tĩnh, lại tiếp tục câm như hến, tuyệt đối không khai. Không còn cách nào khác, các thầy cảnh sát đành tống Đại Cathay vào trại tế bần hoặc Trại giáo hóa thiếu nhi phạm pháp ở Thủ Đức.

Ở miền Nam trước giải phóng, có bốn nơi được coi là “lò đào tạo du đãng”. Nơi thứ nhất là Trại nuôi dạy trẻ mồ côi, cơ nhỡ nằm tại địa điểm nhà hát Hòa Bình hiện nay. Nơi thứ hai, Làng cô nhi THủ Đức, điều kiện sống khá hơn nhưng vẫn rất lỏng lẻo, tha hồ cho đám tiểu yêu phá phách. Những tên nhóc bất trị nhất, hai trại trên đều không chứa nổi thường bị cảnh sát lùa vào Trại giáo hóa Thủ Đức. Thực chất, đây chỉ là nơi nuôi báo cô đám du thủ du thực, chờ chúng đủ tuổi là đẩy vào quân đội. Nơi thứ tư, Trại Tế Bần nằm bên kia cầu Trịnh Minh Thế (nay là cầu Tân Thuận), là một Trạm trung chuyển giam giữ những tên lưu manh sắp hết tuổi vị thành niên. Sau nửa tháng bị giam, nếu có người nhà bảo lãnh, đóng phạt, tên tiểu yêu sẽ được cho ra. Nếu không chúng sẽ bị nhốt lại, chờ đủ tuổi là tống vào đội quân “cưỡng bức phục vụ” tức lao công phục vụ chiến trường. Kẻ nào bị liệt vào hạng này coi như cầm chắc cái chết. Ngoài mặt trận, việc của họ là đi trước phát cây, mở đường, đào công sự, trong khi chân không giày dép, hai người chung một sợi dây xích chân, muốn chạy cũng không được, mặc kệ mưa đạn vãi cả trước mặt lẫn sau lưng. Biết trước số phận “bia thịt” của mình nên đám du đãng vào trại tế bần chưa ấm chỗ đã tìm cách trốn. Lọt ra khỏi vòng rào các trại, đám nhóc lại lần về với các băng nhóm du đãng, bụi đời.
    (Một góc Sài Gòn xưa)

Hầu hết đám giang hồ Sài Gòn nổi tiếng sau này đều đã từng qua đủ các trại nói trên. Thuộc hang vào ra như cơm bữa, Đại Cathay được liệt vào loại “tù con rạ”, để phân biệt với đám “tù con so” mới nhập trại lần đầu. Ở các trại, Đại Cathay đã làm quen với những Của Gia Định, Lâm Chín Ngón, Hắc Quảy Quảy, Hòa Áo thun… những chiến hữu đắc lực sau này trên chốn giang hồ

Mỗi lần vào trại rồi trốn ra, Đại Cathay càng liều lĩnh hơn, kinh nghiệm hơn, càng “tích cực” lao đầu vào những trận thư hùng-vốn là thứ năng khiếu nổi trội hơn cả ở hắn.Năm 1955, Đại Cathay chuyển sang sinh sống ở khu vực Hãng phân Khánh Hội cạnh Nhà máy thuốc lá Bastos. Đám trẻ con khu vực này đón tiếp Đại Cathay khá nồng nhiệt bằng những trận hỗn chiến. Một lần nữa, sự lì đòn của Đại lại giành phần thắng. Toàn bộ nhóc tì khu vực Khánh Hội, quanh cầu Ông Lãnh, gồm toàn dân bến tàu vựa cá, vựa rau cải – vốn có hạng trong nghề dao búa – đều bị Đại Cathay qui phục về dưới trướng. 

Khi Đại Cathay còn là một cậu bé đánh giày thì toàn bộ khu vực Cầu Mống - Dân Sinh - Cầu Ông Lãnh mà dân giang hồ gọi là khu Da Heo, đều do một tay giang hồ nổi tiếng là Tám Lâu cai quản. Ở trần, quần dài vắt vai, đi đứng nói năng khụng khiệng, nét mặt luôn đằng đằng sát khí, Tám Lâu bị bà con khu Da Heo coi như một hung thần. Nghề chính là đạp xích lô, nhưng thực chất Tám Lâu là kẻ nhận quyền bảo kê thu thuế toàn bộ khu Da Heo, dưới trướng có hàng chục đàn em. Dưới nệm xích lô, Tám Lâu luôn thủ sẵn "hàng mã", sẵn sàng vung ra bất cứ lúc nào với bất cứ ai. 

Nhiều lần chứng kiến thằng nhóc đánh giày dẫn quân đập lộn, Tám Lâu đâm "chịu" Đại. Thỉnh thoảng ngồi nhậu thấy Đại đi qua, Tám Lâu lại ngoắc vào kê ghế cho ngồi cạnh mần hơi cho ấm bụng. Qua những lần nhậu ké đó, Đại Cathay được Tám Lâu giới thiệu như một tay trẻ tuổi tài cao đầy hứa hẹn với đám giang hồ đàn anh: Ba Hội, Cảnh Tượng... Tám Lâu cũng thường đưa Đại đến các khu Lò Heo (cũ), Chánh Hưng, hẻm Hai mươi để làm quen với các tay anh chị khu vực khác. Nể tình Đại Cathay cũng hay ghé đến hẻm 110 Nguyễn Công Trứ để thăm hỏi Tám Lâu. 

Tuy hung tợn, dữ dằn nhưng Tám Lâu vẫn phải thúc thủ trước uy thế của anh em Bé Bún, một trùm giang hồ quận 4, khu vực cạnh Hãng phân nơi Đại Cathay trú ngụ. Cậy đông quân lắm mã, đám này thường kéo rốc qua Cầu Ông Lãnh, tràn vào "thu thuế" giật bà con thiểu thương chợ vựa Cầu Muối, Tám Lâu không cản nổi. 
Một ngày cuối năm 1957, tình cờ nghe đàn anh thở ngắn than dài, nộ khí xung thiên, Đại Cathay đề xuất: 
- Anh Tám để đó em lo. Phải cho Bé Bún nằm viện, đám này mới ngán! 
Tám lâu gạt phắt: 
- Con nít biết gì? Tao còn thua nó, mày là cái đinh gỉ! 

Tự ái Đại Cathay bỏ về. Lúc này đám Ba Binh, Ba Tướng của Đại cũng đã lớn, toàn thanh niên 17, 18 tuổi, lại lăn lộn lề đường nhiều nên cũng khá dày dạn. Nghe lời Đại Cathay, đám này vác dao qua Bến Vân Đồn "chém bậy" vài tay em của Bé Bún để khiêu khích. Điên tiết, Bé Bún hô toàn bộ em út tấn công sang khu Da Heo hỏi tội Tám Lâu. Quân Bé Bún quá đông, khiến Tám Lâu và đám đàn em hoảng hốt, định bỏ chạy. Nhưng vừa qua khỏi Cầu Ông Lãnh, băng Bé Bún đã ôm đầu máu chạy ngược trở lại, kêu la vang trời. Không nói trước với đàn anh nửa câu, Đại Cathay đã âm thầm cho đàn em của mình "trải đệm", bất ngờ "luộc" băng Bé Bún. Dưới sự chỉ huy của Đại Cathay, đám giang hồ tân binh tả xung hữu đột lăn xả vào chém quân Bé Bún, xộc thẳng sang cả bên kia cầu. Nói là làm, Đại Cathay đã xỉ cho Bé Bún mấy nhát sau đó phải nằm viện thật, không dám bén mảng sang giành mối ở khu Da Heo nữa. 
Sau trận hỗn chiến, Tám Lâu đâm ớn "tài ba" của Đại Cathay. Một mặt, Tám Lâu tuyên bố trong khu Da Heo, Đại Cathay có toàn quyền xử sự, mặt khác y lại lo ngay ngáy bị Đại Cathay lấy làm đối thủ. Biết ý, Đại tuyên bố không giành đất, khu Da Heo vẫn của Tám Lâu. Phần Đại, gã chỉ thu thuế các sòng bài, ổ đề, tiệm hút trong khu vực. Tiếp đó, Đại vươn tay bảo kê tất cả các ngành nghề kinh doanh lậu bao gồm xưởng nấu xà phòng, lò mổ heo, lò rượu...trong khu. Có tiền có quyền, Đại dần dần đã khiến các tay anh chị khác phải dạt ra. Đại Cathay tha hồ ăn chơi và làm mưa làm gió. Đầu những năm 1960, thuyết hiện sinh và phong trào hippie bắt đầu thâm nhập vào miền Nam. Các cậu ấm cô chiêu con nhà giàu tuy được ăn học đàng hoàng nhưng cũng học đòi nhau, thường xuyên có mặt ở các nhà hàng, vũ trường, tiệm hút với đủ kiểu quần áo tóc tai dị hợm. Đại Cathay tuy ít học nhưng cũng không hề kém cạnh các bậc trí .... giả trong khoản ăn chơi. 

    (miss Sài Gòn)

Nhẵn mặt ở các nơi đốt tiền nổi tiếng của quận 1, quận 3, Đại Cathay và đám đàn em bắt đầu quen biết với một đám sinh viên, kỹ sư, bác sĩ con nhà gia thế, trong đó có anh em Dzách Bửu, Dzí Bửu, Hùng Đầu bò, Hoàng Sayonara (tay này móc classic bản Sayonara rất "não nùng")... và nhiều văn sĩ nghệ sĩ khác. Đám nghệ sĩ trí thức cũng nể Đại Cathay chịu chơi và khoái vẻ ngang tàng, bụi bặm của gã- trông bụi đời, hippi hơn cả. Chính Hoàng Sayonara sau đó đã trở thành quân sư hoạch định chiến lược làm ăn và chinh phạt cho Đại. Nghe lời các quân sư, Đại Cathay đứng ra cùng với Bảy Si, bà Bảy Trà đá mở sòng bài lấy xâu ở khu vực Cầu Muối. Ban Đầu Đại Cathay không thích mở sòng bài vì dân giàu có đã có các sòng Đại Thế Giới, Kim Chung... Mở nữa e không cạnh tranh nổi, Hoàng Sayonara vẽ: 
- Không chỉ giàu mới máu me đen đỏ. Các sòng lớn như Kim Chung, Đại Thế Giới toàn dân quí tộc, chức sắc, dân giang hồ, người buôn bán ngại vô. Ta mở sòng vừa vừa kéo khách từ đám này. 

Đại Cathay đồng ý. Ở chợ Cầu Muối trước đó Bảy Si (anh vợ Năm Cam – ông trùm sòng bạc sau này) đã có sòng bài sẵn, nhưng khi nghe Đại Cathay đề nghị hùn hạp, Bảy Si cũng không thể chối từ. Thừa thắng, Đại mở rộng ra cả lĩnh vực làm huyện đề 40 con chung với Hỏi, trùm, khu Cây Da Xà. Hắn mua của Hùng Đầu bò một chiếc Traction - 15, chiều chiều cho đàn em lái đi khắp các ngả đường vứt lên từng xấp "phơi" đề cùng với hàng cọc tiền chở về. Quyền lực được tiền bạc hậu thuẫn khiến Đại Cathay càng thêm uy thế. Đến năm 1962, 1963, Đại Cathay đã trở thành một ôm trùm khét tiếng. Gần như hầu hết nhà hàng khách sạn, động mại dâm, tiệm hút chích, sàn nhảy ở khu vực quận 1, quận 2 đều chịu sự bảo kê của Đại. Các vũ trường nổi tiếng như Olympic, Queen Bee, Barcara, Paramouth đều coi hắn như ông chủ đích thực, Đại Cathay và đàn em tha hồ ăn chơi nhảy múa mà không một nơi nào dám viết hóa đơn, thậm chí còn lấy làm vinh hạnh vì được đàn anh chiếu cố. 

Nhưng nguồn lợi lớn hơn cả mà Đại Cathay thu được lại không phải từ tiền thuế bảo kê. Chính giới doanh nghiệp làm ăn lớn là kẻ tình nguyện đóng góp đều đặn để Đại nuôi quân, đồng thời để nhờ vả Đại làm hậu thuẫn khi cần gây sức ép hay giành giật trên thương trường với kẻ khác. Cả anh em tỉ phú Hoàng Kim Qui (Vua kẽm gai), Xí Ngàn mặt rỗ (vua thuốc Bắc), La Thành Nghệ (vua thuốc đỏ) và hơn chục ông vua các ngành nghề khác của người Hoa là những người đều đặn chu cấp cho Đại. Cũng nhờ uy thế của các "vu", Đại Cathay cũng làm quen, "chơi chịu" được với khá đông nhân vật quyền thế và tên tuổi khác. 
Chỉ năm năm sau ngày khởi sự ở khu Da Heo, Đại Cathay đã trở thành một ông trùm không đối thủ, được toàn giới giang hồ kiêng dè, sợ hãi. Nhưng vẫn còn ba ông trùm "lừng lẫy" khác không ưa gì Đại Cathay, đó là Huỳnh Tỳ, ôm trùm Lê Lại, Ngô Văn Cái và Ba Thế. Cho rằng Đại "chơi kèo trên", giành mối, giành đất, Huỳnh Tỳ và Ngô Văn Cái quyết định "hội đồng" diệt Đại. Hai tên giang hồ họp nhau tại vũ trường Aristo (sau này là khách sạn Lê Lai, cạnh khách sạn New World) cùng một giang hồ gộc là Thế Aristo - chủ vũ trường - có thêm Hùng phốc và Luân - 2 giang hồ cộm cán khác cùng hỗ trợ, mời Đại đến "bàn công việc". Không chút nghi ngờ, Đại Cathay đã bất ngờ bị Thế Aristo đá lộn cổ trở xuống. Bốn kẻ phục kích cũng nhất tề rút dao xông vào chém. Đại Cathay vừa đỡ đòn vừa tìm đường thoát thân, chạy được ra ngoài, mình mẩy đầy thương tích nhưng may không chết. Những vết thương chưa kịp kéo da non, Đại đã đơn thương độc mã giắt dao đi tìm từng tên một trị tội. Cả năm tên đều lần lượt bị Đại Cathay chém trọng thương. Cuối cùng Tám Lâu phải nhờ Cảnh Tượng, Ba Hội và một số tay đàn anh khác xin lỗi giúp cho năm tên, Đại Cathay mới nguôi giận, đồng ý "hòa giải". Danh xưng "Tứ Đại giang hồ" bắt nguồn từ đó.

Lẽ ra, với những thành tích bất hảo chồng chất lên nhau, Đại Cathay đã ngồi tù mọt gông từ những năm trước đó. Nhưng xã hội miền Nam đầy nhiễu nhương với bộ máy quan chức được mua bán bằng tiền đã tỏ ra bất lực không trị nổi Đại Cathay và đám du đãng, để mặc kệ cho chúng làm mưa làm gió. Vào thời đó, chức quận trưởng quận 1 trị giá 30 triệu đồng, trong khi lương lính chỉ hơn 300 đồng cho nên những kẻ đương chức chỉ tìm cách vơ vét, làm giàu để bù lại số tiền đã bỏ ra mua lon tước. Cò Ly, quận trưởng quận 1 còn cố tình dung túng cho Đại Cathay mở sòng bài, hoạt động bảo kê thu thuế. Bù lại, hằng tháng, Đại đều có những khoản riêng béo bở tuồn vào cửa sau cho vợ ông Cò. Mỗi chiều thứ bảy, cò Ly và Đại Cathay lại sánh vai nhau bước vào các vũ trường nhà hang sang trọng ăn chơi, đập phá thâu đêm. Đương nhiên, lương quận trượng một năm cũng không đủ chi cho một lần nhất dạ đế vương nên ông cò chẳng bao giờ phải nghĩ đến chuyện móc hầu bao. Có tiền, có quyền, có thế, Đại Cathay quyết định bành trướng xuống Chợ Lớn, lãnh địa của Tín Mã Nàm, ông trùm giới Hắc Đạo người Hoa, xưa nay vẫn được coi là bất khả xâm phạm. 

So với băng du đãng của Đại Cathay, giới Hắc Đạo của Tín Mã Nàm có tổ chức chặt chẽ và hùng hậu hơn nhiều. Dưới thời Diệm - Nhu, toàn bộ hoạt động kinh tài của các bang hội Hoa Kiều Chợ Lớn đều có cổ phần của giới Hắc Đạo. Toàn bộ nhà hàng, sòng bạc, tiệm hút... đều do giới này quản lý hoặc hùn hạp. Tuy nhiên, sau đảo chính tháng 11.1963, do tham lam, chính Tín Mã Nàm đã khiến giới Hắc Đạo suy yếu. Bắt tay với khá nhiều tướng lĩnh, chính khách thuộc phe đảo chính, "Con ngựa điên" đã bán đứng một số cơ sở kinh tài của các bang hội cho chính quyền mới, tố họ là "cơ sở kinh tài của Diệm - Nhu". Mặt khác, Tín Mã Nàm cũng tố cao và giao nộp cho cảnh sát một loạt tay giang hồ Hoa kiều không ăn cánh với y như Hỏi Phòong Kin, Sú Hồng, Cọp Chảy, Quầy Thầu Hao, Hắc Quẩy Chảy... nhằm củng cố địa vị "Vua Hắc Đạo" của mình. Vì vậy, Tín Mã Nàm được trung tá Lê Ngọc Trụ - Trưởng ty cảnh sát quận 5 trọng dụng và ưu đãi, trong khi bị nhiều đàn em oán giận và tìm cách trả đũa. 

Trong những kẻ oán Tín Mã Nàm có tay tài pán tên Chó, người giúp việc cho Tín Mã Nàm quản lý ngành kinh doanh cờ bạc. Biết được sự chia rẽ đó, Đại Cathay đã sai đàn em dụ hàng tên này. Chó đã bán đứng Tín Mã Nàm, kéo một lượng lớn các con bạc nặng ký từ các sòng Đại Thế Giới, Hào Huê về Cầu Muối cho sòng của Đực Bà Tiều và Bảy Si thuộc quyền Đại Cathay, đồng thời bỏ luôn khu Chợ Lớn về theo Đại Cathay mở mang sòng bạc ở khu Sài Gòn. Biết chuyện, Tín Mã Nàm hạ lệnh cho giới Hắc Đạo: 
- Chém bất cứ tên đàn em nào của Đại Cathay bén mảng xuống Chợ Lớn. 

Chỉ chờ có thế, suốt 12 tháng trời, Đại Cathay đã liên tục đổ quân tập kích xuống các điểm làm ăn của Tín Mã Nàm ở vùng Chợ Lớn, chém phứa vào bất cứ ai rồi tức tốc bỏ chạy. Người bị chém thường là dân lành, khách chơi, chính vì vậy họ đâm sợ các điểm ăn chơi giải trí của Hắc Đạo, không dám lui tới nữa. Vắng khách, thu nhập thấp, đám cô hồn bảo kê của Tín Mã Nàm đành túa ra làm ăn lẻ để gỡ gạc, bất chấp kỷ luật của ông trùm. Nhưng cứ tên Hắc Đạo nào lọt xuống khu Sài Gòn là tên đó bị đàn em của Đại Cathay chặn đánh. Đầu năm 1964, biết phe Hắc Đạo đã hết phong độ, Đại Cathay quyết định đánh trận cuối, Đại dẫn theo 9 tên đàn em "chiến đấu" nhất, trong đó có Ba Thế và Lâm chín ngón đi trên 5 xe Goebel bất thình lình tấn công vào quán cà phê ngay trước rạp Hào Huê, đối diện với Đại Thế Giới. Đây là điểm tụ tập của các tay đàn em Tín Mã Nàm vào 2 buổi sáng chiều. 

    (Cảnh sinh hoạt đường Đồng Khánh, Chợ Lớn)

Cuộc tập kích thất bài, hai bên đều thiệt hại nặng nề. Nhưng máu liều của Đại Cathay càng được giới giang hồ truyền tụng và vị nể. Tín Mã Nàm cũng lo lắng: nếu cứ để cho Đại Cathay tập kích mãi như vậy, giới Hắc Đạo chỉ còn nước dẹp hết sòng bài, tiệm hút vì không còn ai dám bén mảng. "Con ngựa điên" phải kìm cơn điên, cử người đến mời Đại Cathay lên nhà hàng Đồng Khánh điều đình. Đàn em cố khuyên Đại đừng vào hang cọp, e bị "trải điệm" nhưng Đại Cathay nổi máu yêng hùng, vẫn quyết định nhận lời. Để tài xế ngoài cửa, Đại một mình tay không lên nhà hàng hội kiến với Tín Mã Nàm. Cử chỉ ngang tàng này khiến Tín Mã Nàm thầm phục. Hắn nhượng bộ, đồng ý giao toàn bộ khu vực từ chợ Nancy về Sài Gòn cho Đại Cathay toàn quyền . Phần quận 5, Chợ Lớn, đàn em của Đại được phép hoạt động với điều kiện không lấn vào những khu vực đã có sẵn người của Hắc Đạo. Riêng các khu vực chợ Sắt, chợ Tân Thành, hẻm "dzách bạc hồ hãn" (hẻm 100), Đại Cathay và đàn em tuyệt đối không được xâm phạm, vì đó là giang sơn riêng của Tín Mã Nàm, nơi vợ bé của y sinh sống.

Phần 2:

Mỗi lần ra đường, Đại Cathay và băng du đãng lại một phen khiến người đi đường khiếp vía. Như một gã con trời thứ thiệt, Đại Cathay chễm chệ trên băng trước chiếc Mustang mui trần do Năm Công lái, có cả chục tên đàn em phóng xe máy theo sau hộ tống. Xe chạy xả ga, hú còi vô tội vạ khiến mọi người hốt hoảng chạy giạt sang hai bên đường, trong khi đám lưu manh tha hồ vỗ tay cười hô hố. Có lúc cao hứng, Đại Cathay còn thượng cả hai chân ra trước kính xe hoặc thò ra bên cửa hông gỏ thùng xe loạn xạ…

Sự ngang ngược coi thường luật pháp của Đại Cathay khiến những kẻ tai to mặt lớn và cảnh sát ngụy hết sức tức tối, nhiều lần tống cổ Đại vào khám. Nhưng bắt cóc bỏ đĩa, chẳng lần nào cảnh sát đủ bằng chứng để giam giữ hắn lâu, đành phải thả. Dùng luật không xong nhiều quan chức ngụy tìm cách mua chuộc hắn.

Biết Đại Cathay đang tuổi quân dịch, viên tướng cao bồi Nguyễn Cao Kỳ - có lẽ do muốn chơi trội – bèn cho gọi tên du đãng đến. Kỳ phủ dụ:

- Tôi biết anh là người có chí, nhưng luật là luật, anh không thể trốn mãi được đâu. Về làm vệ sĩ cho tôi, anh vừa khỏi đăng lính, lại vẫn có quyền hành, muốn đi đâu làm gì mặc sức mà khỏi bị ai thù oán. Anh cứ suy nghĩ cho kỹ, ba ngày nữa trả lời tôi cũng được.

Tên du đãng ít học đời nào chịu suy nghĩ những ba ngày. Kỳ chưa dứt Đại Cathay đã trả lời luôn:
- Dạ, cảm ơn thiếu tướng đã có thịnh tình chiếu cố. Phiền nỗi tôi đi đâu cũng có cả chục gạc-đờ-co hộ tống, giờ tôi lại làm gạc-đờ-co cho người khác, không lẽ để cho tụi nó thất nghiệp?

Tướng râu kẽm bầm mặt nhưng vẫn ngọt nhạt:
- Làm vệ sĩ của tôi, anh là nhân viên công lực của quốc gia, danh giá đâu kém cạnh gì ai? Là quí anh tôi mới bảo thế, chứ nếu cần vệ sĩ tôi đâu thiếu người giỏi

Đại Cathay vẫn ngổ ngáo:
- Dạ, xin lỗi, tôi không hầu thiếu tướng được…

Sau Nguyễn Cao Kỳ đến lượt tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan, giám đốc Nha cảnh sát Đô Thành. Tuyên bố “Đặt giang hồ ra ngoài vòng pháp luật”, tướng Sáu Lèo cho mở “Trung tâm bài trừ du đãng” đặt ở bên kia cầu Bình Triệu (quận 9) và lập “Biệt đội hình cảnh” nhằm tiêu diệt giang hồ do đại úy Trần Kim Chi làm đội trưởng. 

Theo lệnh Sáu Lèo, “Biệt đội hình cảnh” được bắn bỏ bất cứ tên giang hồ nào trên đường phố nếu chúng gây án và chống lại cảnh sát. Sau một thời gian hoạt động, “Biệt đội hình cảnh” vẫn chỉ tóm được một số tên du đãng “tép riu”, tướng Sáu Lèo bèn quay sang tìm cách mua chuộc Đại Cathay hòng “dĩ độc trị độc”. Đính thân Mã Sâm Nhơn, phụ tá của tướng Sáu Lèo đến gặp, đưa giấy mời của ngài chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan cho Đại Cathay. Cùng một đàn em, Đại Cathay có mặt y hẹn. Nguyễn Ngọc Loan ra giá:

- Tôi sẽ nhận anh vào chức vụ đại úy Phó ty cảnh sát quận 7. Anh được toàn quyền hành động, nhưng phải giúp tôi tiêu diệt hết đám lưu manh du đãng.

Đại Cathay từ chối:
- Tôi xuất thân du đãng, làm sao có thể quay lưng diệt du đãng được? Nếu tôi nhận lời, du đãng không chém, tôi cũng chết vì thân bại danh liệt.

Nguyễn Ngọc Loan hạ giá:
- Anh không muốn nhận, tôi không ép, nhưng anh phải giải tán băng nhóm, không được lộng hành.

Đại Cathay đồng ý với điều kiện để cho y và đàn em toàn quyền làm ăn và cai quản khu cảng Sài Gòn, Khánh Hội, khu vực chợ vựa Cầu Muối, và hai bên bờ Kinh Tẻ. Thấy tên giang hồ cứng đầu, Nguyễn Ngọc Loan nổi đóa:

- Tôi lệnh cho anh giải tán hết, nếu không giang hồ, du đãng sẽ không còn đất sống!

Đại Cathay trả lời:
- Giang hồ không có vua, tôi đâu có ra lệnh cho các băng khác được.

Cuộc mặc cả kết thúc. Tiếng tăm Đại Cathay nổi như cồn trong giới giang hồ vì “dám vuốt râu kẽm” tướng Nguyễn Cao Kỳ và từ chối chức tước của Nguyễn Ngọc Loan ban cho. Đại Cathay càng vênh váo hơn. Nhưng chính bằng sự nổi tiếng ấy, Đại Cathay đã tự ký cho mình bản án tử hình

Quá ngạo mạn, đang đang là giai đoạn cực thịnh của băng Cathay, Đại vẫn tiếp tục lộng hành. Không chi ngổ ngáo với tướng Sáu Lèo trong công việc, Đại Cathay còn công khai qua mặt và thách thức viên tướng này trong cả khoản ăn chơi, chẳng thèm lưu tâm gì đến sức nặng của cái lon chuẩn tướng và trọng trách “Chief” ngành cảnh sát mà Nguyễn Ngọc Loan đang nắm giữ.

Vào thời điểm đó, Sài Gòn ngập tràn trong không khí sống gấp và hưởng thụ, không cần biết đến tương lai. Một trong những mốt thời thường của các nhà buôn giàu có, các sĩ quan ngụy hào hoa, các công tử con nhà gia thế là công khai có nhân tình nhân ngãi hoặc cặp bồ với cave, nghệ sĩ trẻ đẹp. Đường đường là một vị tướng, Nguyễn Ngọc Loan đâu thèm để mắt tới các cô cave, ca sĩ phòng trà bình thường. Người ta thường thấy “ông tướng độc nhỡn” thường xuyên có mặt tại vũ trường Olympic trên đường Lê Lợi vào mỗi tối thứ 7. Tại đó, Nguyễn Ngọc Loan là chủ nhân của một vưu vật: ca sĩ Phương Dung nổi tiếng xinh đẹp và quý phái, người được mệnh danh là “con nhạn trắng Gò Công”, lấy vũ trường này làm đất biểu diễn. Mỗi lần đến thăm tình nhân, viên tướng xách theo cả chục tên vệ sĩ thuộc hàng thiện xạ, cũng nổi tiếng ngổ ngáo và chịu chơi, phóng xe Jeep bạt mạng với những đường cua cong lề bạt phố, đạp phanh cháy cả mặt đường.

Olympic cũng là chốn mà băng Đại Cathay thường xuyên lui tới. Hơn thế nữa, Thủy Tàu – tài pán vũ trường Olympic còn là một “mối” rất khoái Đại Cathay. Khác với viên tướng và đám lâu la bụi bặm, Đại Cathay thường lướt trên một chiếc Chevrolet có gắn điều hoà không khí, choáng lộn và êm ru nhẹ nhàng bơi đến cửa vũ trường. Loại xe đó, cả Sài Gòn chỉ có dăm ba chiếc.

So với đám vệ sĩ với lương lính còm cõi, Đại và băng Cathay luôn sẵn sàng “xài lớn”, rút tiền chẳng bao giờ đếm, người ngợm củng “kẻng” hơn, dĩ nhiên là được các em cave ở đây săn đón nồng nhiệt hơn nhiều. Bị “gác kèo”, đám vệ sĩ tức lắm, nhiều lần hậm hực, nhưng Đại Cathay và đám đàn em vẵn phớt ănglê, coi như “chuyện tép”.

Một tối, Đại và khoảng chục đàn em, trong đó có Lâm Chín ngón và Lành Cầu Muối – một tay cảnh sát ăn “rơ” với giang hồ kéo đến Olympic từ khá sớm. Thấy các đàn anh, đám cave ríu rít túa ra vây lấy bá cổ níu tay, chí choé cả gian bar trên lầu 2. Cả đám “vui vẻ” mới chừng nửa tiếng, cánh cửa lại xịch mở. Đám vệ sĩ của Sáu Lèo – không có chủ tướng đi cùng – xộc vào, cũng cỡ chục tên. Ngồi chờ cả 15 phút, đám vệ sĩ vẫn không thấy cô cave nào đến săn sóc. Trong khi đó, ở mấy bàn bên vẵn lien tục vọng sang tiếng cấu véo giỡn hớt rúc rich của băng Cathay với đám cave như thể trêu ngươi. Nổi cáu, cả đám vệ sĩ đưa mắt nhìn nhau và đứng bật dậy. Thiếu úy Hải, một tay nổi tiếng thiện xạ tiến sang, đứng đối diện với Hải Súng của băng Cathay, hất hàm:

- Vui vẻ quá hả? Sang bớt mấy em chứ, để bên này ngồi không, coi sao đặng?”

Vẫn không buông vai cô “đào nhí”, Hải Súng hất mặt:
- Đâu có được, đến trước có phần trước, trâu chậm phải uống nước đục, trách gì?

Viên thiếu úy gườm gườm, đưa tay vào bụng đặt lên báng súng:
- Đừng chơi quê tụi này chớ!

- Thì đã sao? – Hải Súng hếch mặt lên. Lúc này băng Cathay và đám cave cũng đã ngưng đùa giỡn, ngẩng lên thủ thế. Được khích lệ, Hải Súng tiếp: - Thịt người tanh không ăn được, đừng doạ nhau, tụi này không thích!

Bị khiêu khích, mắt thiếu úy Hải vằn lên. Hắn xấn xổ chụp lấy tay cô đào nhí kéo về phía mình, tuyên bố:

- Không thích cũng bắt!

Phần 3

Sợ hãi, cô cave thét lên. Không nói không rằng, Hải Súng vớ ngay chai Black and White trên bàn giáng thẳng xuống đầu đối thủ. Phản xạ nhanh, thiếu úy Hải vội buông cô cave nhảy vọt sang một bên và móc súng. Hai băng xông vào nhau. Bàn ghế ly tách bay tứ tán. Đột nhiên, Đại Cathay hét lên:

- Tụi nó chơi súng, rút, tụi bây.
Pằng! Pằng! Pằng! Ầm

Đại chưa dứt câu, dàn đèn phe lê đã rơi ụp xuống sàn, vỡ tung toé, đồng thời một viên đạn cũng nhằm đầu gối Đại găm tới, xô y gục xuống. Hải Súng vội xô tới xốc Đại lên bỏ chạy. Trong băng chỉ có Hải và Lâm Chín ngón giắt súng theo. Cả hai cũng vội móc ra bắn loạn xạ. Lâm Chín ngón gào lên:

- Anh em rút đi, để tôi lo!

Lúc này, đám cave, bồi bàn đã hoảng hồn bỏ chạy hết. Thủy Tàu khá nhanh trí, vội chạy bổ vào trong sập cầu dao điện. Bóng tối chụp lấy vũ trường đã hỗ trợ cho băng Cathay bỏ chạy. Bị thương, Đại Cathay khó khăn lắm mới được Hải Súng và Ngân Pôcon dịu được xuống lầu và kéo thẳng ra đường. Lúc này, Lành Cầu Muối cũng vừa vặn trờ chiếc Mustang tới, hốt cả bọn lên xe chạy thẳng. Lâm Chín ngón chạy sau cùng. Sauk hi nhả hết đạn, y cũng vội đu cửa số phóng xuống được Tạ Thu Thâu cắm đầu chạy luôn một mạch. Sau lưng, đám vệ sĩ Sáu Lèo vẫn nã đạn theo chíu chíu.

                             (A Saigon night-club dancer 1969. Một vũ nữ Sài gòn năm 1969.)

Không thu phục được Đại Cathay, tướng Sáu Lèo đã ra lệnh cho “Biệt đội hình cảnh” bắt bỏ tù hàng loạt đàn em nhằm cô lập hắn. Núng thế, Đại Cathay đành tìm cách hoãn binh. Một buổi tối, hắn mua nguyên nhà hàng Paramouth mời đại úy Trần Kim Chi đến dự tiệc. Khi rượu đã chếnh choáng, Đại Cathay mới ngỏ ý:

- Nếu đại úy chịu tha một số anh em của tôi vừa bị bắt, chúng tôi sẽ không quên ơn anh…

Viên đội trưởng “Biệt đội hình cảnh” cũng thuộc loại ngang tàng không kém gì Đại Cathay, từ chối thẳng thừng:

- Ăn nhậu là ăn nhậu, bắt là bắt. Nếu anh mời tôi đến đây là để mặc cả thì coi như tàn tiệc, tôi xin kiếu.

Nếu là trước đó mười hôm, máu côn đồ của Đại Cathay sẽ nổi lên ngay. Nhưng đang yếu thế nên Đại vẫn nhũn nhặn:
- Ồ không không. Nếu đại úy không ưng thuận thì thôi. Còn hôm nay mời đại úy đến là để an hem vui vẻ. Mời đại úy cứ tự nhiên, đêm nay toàn bộ nhà hàng này là chỉ để phục vụ chúng ta, đại úy đừng bận tâm làm gì.

Viên đại úy không vui vẻ được lâu, cũng chẳng còn thời gian để bận tâm lâu hơn nơi cõi thế. Sau buổi tiệc chỉ nửa tháng, một chiếc xe “be” chở gỗ không rõ xuất xứ đã “bò” ngang qua chiếc xe hơi CV2 của Trần Kim Chi khi viên đại úy này đang đi công vụ trên xa lộ. Đại úy Chi và viên lái xe chết tại chỗ, chiếc xe gây tai nạn bỏ chạy mất tăm, “không nhận dạng được biển số”. Giới giang hồ đều cho rằng chính Đại Cathay đã sát hại Trần Kim Chi

Cái chết của Trần Kim Chi đã đánh dấu chấm than cuối cùng cho cuộc đời du đãng của Đại Cathay. Tháng 8.1966, với tội danh “Du đãng đặc biệt”, Đại Cathay lại bị tóm cổ. Cùng với một loạt du đãng khác, ngày 28.11.1966, Đại Cathay bị tống lên máy bay vận tải C47 đưa ra giam giữ tại đảo Phú Quốc.

Gọi là “Trung tâm hướng nghiệp” nhưng chính xác, đây là nơi lưu đày những tên lưu manh ngoại hạng dày thành tích bất hảo nhưng không có chứng cớ để bắt quả tang, do chính Nguyễn Ngọc Loan (Ông này là người nổi tiếng với bức ảnh bắn một tù binh Việt Cộng ngay trên đường phố.) đề nghị thành lập nhằm “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn luật pháp”.

Trại là những dãy nhà dã chiến thấp lè tè nằm trong rào kẽm gai bịt bùng đặt cạnh sân bay Phú Quốc ngay tại thị trấn Dương Đông. Gọi là “hướng nghiệp” cho oai, kỳ thực đám tù suốt ngày chỉ ngồi ngáp vặt, đánh mạt chược mà không hẹn ngày về chứ chẳng có việc gì để làm. Một hôm, đang đánh mạt chược, Đại Cathay bảo:
- Gọi “hướng nghiệp” nghe chán thấy mẹ, tụi mình đặt lại tên cho nó đi.

Cả bọn đồng ý. Bác sĩ Nghiệp, một tên du đãng có học đề xuất:
- Bốc đại một con mạt chược, trúng con gì, đặt tên đó. 

Đại Cathay quơ được con Cửu Sừng, vậy là “Trung tâm hướng nghiệp Phú Quốc” nghiễm nhiên trở thành “Trại Cửu Sừng”.

Không giống như dự định của tướng Sáu Lèo và sảnh sát ngụy, Trại “Cửu Sừng chẳng những không “hướng” được chút “nghiệp” nào cho đám đầu trâu mặt ngựa mà ngược lại hoàn toàn. Toàn bộ đám du đãng bị bắt vào đây như Đại Cathay, Hải Súng, Hoà áo thun, Lâm Chín ngón, Bảy Si, Hỏi Phoòng Kin, Thanh tưa, Quẩy Thầu Hao.. sau này đều là những tên giang hồ cộm cán nhất của Sài Gòn – Chợ Lớn, càng ngày càng hung hãn hơn. “Trại Cửu Sừng” như một con dấu chất lượng để đánh giá giang hồ. Tên nào từng ngồi ở “Trại Cửu Sừng” sau này đểu trở thành đàn anh, được quyền ăn trên ngồi trốc trên chốn giang hồ.

Người vợ cuối cùng, cũng là cuộc tình sâu nặng nhất của Đại Cathay là cô Nhân, con gái chủ tiệm đồ gỗ Đồng Nhân nổi tiếng nằm trên đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) đối diện với vũ trường Olympic. Khi Đại và cả đám đàn em bị tống ra đảo Phú Quốc, Nhân ở lại Sài Gòn, biết chắc rằng loại tù không án như chồng mình e khó có ngày về. Cô cùng anh trai vung tiền ra tìm cách cứu Đại Cathay.

Đầu tháng 1.1967, Nhân có mặt trong đoàn thân nhân ra thăm nuôi đám du đãng bị nhốt ở Trại Cửu Sừng. Gặp Đại Cathay cô báo cho chồng biết đã lo xong việc tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục. Đám lính gác sẽ làm ngơ cho Đại Cathay và một số đàn em trốn ra khỏi trại. Một xuồng máy chờ sẵn sẽ đưa đám tù ra khơi, có tàu hải quân do Nhân bố trí sẵn rước về đất liền. Để mua chuộc đám lính gác, Nhân đưa cho Đại một chiếc áo bluson và dặn dò kỹ lưỡng. Nhìn bề ngoài, nó chỉ là một chiếc áo lạnh rẻ tiền, sau lưng có một con rồng ấp quanh bản đồ Việt Nam thêu hai màu, nửa miền Bắc màu đỏ, nửa miền Nam màu vàng. Loại áo này bán nhan nhản dọc các tiệm đường Lê Thánh Tôn, trong chợ Dân Sinh… chủ yếu để đám lính Mỹ sắp hồi hương mua về làm kỉ niệm.

Khi chuyển áo cho Đại Cathay, tên lính canh của trại hướng nghiệp Phú Quốc thấy nó nặng hàng ký nên đâm nghi ngờ. Lần theo lưng áo hắn sờ thấy giữa hai lần vải có hàng chục miếng kim loại mỏng được khâu đầy trong đó. Đoán là vàng, tên lính canh định lôi ra khám xét. Lập tức cái liếc xéo mắt của tên sĩ quan đứng cạnh đã ngăn hắn lại. Tên lính đành trả lại áo cho Đại Cathay mang về phòng. 

Theo lời đồn đại của giới giang hồ thì khi về phòng, Đại Cathay đã xé chiếc áo lấy ra đúng 62 lá vàng loại 1 lượng khâu trong đó. Với số vàng này, Đại đã mua chuộc đám cai ngục để chúng bố trí cho lính gác làm ngơ khi Đại bỏ trốn. Đi theo Đại Cathay có khoảng một chục đàn em trong đó có Xì kíp, Lắm Mổ bụng, Hùng Mỏ chuột, Hải Súng và Lâm Chín ngón… Đến phút cuối, Đại Cathay theo lời Hải Súng tham mưu, quyết định để Lâm Chín ngón – gã đệ tử thân nhất - ở lại. Đại nói với cả đám:

- Thằng Lâm lóc choc, dễ làm bể chuyện lắm. Vả lại, chuyến đi này lành ít dữ nhiều, nó còn trẻ, tội lắm. Chi bằng để nó lại, mình thoát rồi lo cho nó về sau an toàn hơn. 

Trước giờ khới sự, Đại Cathay gọi Lâm Chín ngón đến và bảo:
- Mày phải bỏ xì ke đi, hại lắm. Tao chích cho mày một lần cuối cùng, sau đó là phải chừa hẳn, nếu không đừng trách.

Đại đã tự tay chích cho Lâm một mũi gấp đôi đô bình thường do chính tay Hải Súng pha chế, có độn thêm một ít tân dược để tăng nồng độ. Phê thuốc, Lâm Chín ngón quay ra ngủ say như chết. 12 giờ đêm ngày 7.1.1967, Đại Cathay dẫn đàn em đào thoát ra ngoài. Theo sự phân công của Đại Cathay, đám tù trốn trại chia làm hai tốp. Tốp thứ nhất gồm năm tên đi trước để nghi binh. Tốp thứ hai, có Đại Cathay và Hải Súng chạy theo hướng bờ biển. Bất ngờ, khi cả hai tốp vừa vọt ra khỏi vòng rào thì phía trại báo động inh ỏi. Tốp thứ nhất, gồm Xì kíp, Hùng Mỏ chuột,.. bị tóm cổ lại ngay. Đại Cathay và Hải Súng vội đổi kế hoạch, chạy lên phía Bắc đảo, lần vào khu núi tượng, nơi có Quân giải phóng hoạt động. Đến đây, không ai còn tận mắt gặp lại Đại Cathay và Hải Súng. Và hàng loạt giai thoại giải thích sự mất tích của hai tên du đãng đầu sỏ bắt đầu xuất hiện.

...Theo hồ sơ về cái chết của hai tên du đãng mà chúng tôi có được: Biết không trị nổi Đại Cathay, lại nhiều lần bị tên đãng làm bẽ mặt, chuẩn tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan rất hận, tìm cách loại trừ vĩnh viễn Đại Cathay. Khi biết cô Nhân – vợ Đại – đang tìm cách lo lót tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục… Nguyễn Ngọc Loan đã chỉ đạo cứ để cho Đại Cathay thực hiện kế hoạch. Đến giờ chót, theo lệnh Loan, toàn bộ toán lính gác của trại hướng nghiệp bất ngờ bị đổi. Toán lính gác mới ráo riết truy kích đám tép riu, còn Đại và Hải, chúng cố ý để cho đào thoát vào núi Tượng. Sau đó, Loan cho một tiểu đội biệt kích do thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được trực thăng chở từ Sài Gòn ra truy kích Đại và Hải, bắn hạ chúng. Khi đi, toán biệt kích dù phải thay quần áo bà ba, đội mũ tai bèo, mang dép râu và sử dụng súng AK47, giả trang làm Quân giải phóng để đổ vấy cho việc giết Đại Cathay và Hải Súng cho phía Cách Mạng. Diệt xong, toán biệt kích dù phải đắp mộ, đề bia tử tế để dễ bề nhận diện và gây dư luận. Chính thiếu úy Trần Tử Thanh sau này đã từng huênh hoang khoe với nhiều phóng viên của một số tờ báo ở Sài Gòn trước 1975 rằng chính tay y đã nổ súng hạ gục Đại Cathay. Khá nhiều người cũng biết rõ ngọn nguồn sự việc, song trước khi ngụy quyền sụp đổ, không một tờ báo nào dám viết về âm mưu hại địch thủ của tướng Nguyễn Ngọc Loan. Vì vậy, lời đồn đại, đoán non đoán già vẫn cứ loang ra mãi, đắp thêm chất huyền thoại vào cuộc đời và cái chết của Đại Cathay – tên du đãng ngoại hạng.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | GreenGeeks Review