THE ART IN MY HEART !!!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quay Phim. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quay Phim. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Ánh sáng trong quay phim



Những chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm của những người làm nghề luôn là những điều quý giá dành cho những người làm nghề truyền hình. Xin trân trọng giới thiệu bài viết ” Ánh sáng trong quay phim” của đạo diễn Nguyễn Ngọc Chiến
Đạo diễn Nguyễn Ngọc Chiến ( Đứng giữa )

1. Có người nói ánh sáng là cây bút vẽ trong tay nhà quay phim, cũng có người nói ánh sáng là bảng pha màu, có người khẳng định ánh sáng là sinh mạng của nghệ thuật quay phim, không có ánh sáng thì không có phim….Dù thế nào đi nữa nghệ thuật quay phim chính là nghệ thuật dùng ánh sáng để tạo nên hình ảnh và vai trò quan trọng của ánh sáng trong quay phim là điều không cần phải nghi ngờ. Nguồn sáng ngoài chức năng chính còn là một yếu tố để diễn tả cái đẹp của sự sống, cái thần của con người, nội dung của phim…

* Về cơ bản có 5 dạng ánh sáng sau: 
- Nguồn sáng chủ,còn gọi là ánh sáng tạo hình:
Chiếu sáng cho toàn bộ bối cảnh, giúp ta quan sát được nhân vật, có cường độ chiếu sáng mạnh nhất, tạo ra độ tương phản cao. Hợp với trục máy camera khoảng 45 độ –>75 độ, hợp với tầm nhìn của nhân vật, thường đánh tản
- Nguồn sáng phụ, còn gọi là ánh sáng điều chỉnh : 
Làm giảm bóng đổ trên khuôn mặt nhân vật, có cường độ chiếu sáng nhỏ hơn ánh sáng chủ, có thể tản hoặc tụ tùy theo gương mặt. Hợp với trục máy góc từ 25 độ–>45 độ 
- Nguồn sáng viền (ven), còn gọi là nguồn sáng ngược hoặc nguồn sáng chếch ngược: 
Chiếu vào phía sau đối tượng (tóc, vai..). Tạo ra đương viền trang trí, tách nhân vật ra khỏi phông, là ánh sáng tụ, hợp với phông theo phưong đứng góc 60– >70 độ, đặt đối diện với ánh sáng chủ. 
- Nguồn sáng phông nền, còn gọi la ánh sáng khung cảnh:
Chiếu sáng cho phông , tạo chiều sâu ngoài ra còn có nguồn sáng hiệu quả, còn gọi là ánh sáng điều chỉnh. 
Đây cũng là 5 phương pháp sử dụng ánh sáng chủ yếu. Trong thưc tế quay phim còn có nhiều cách sử dụng ánh sáng hơn…

2. Chiếu sáng hiệu quả nội đêm: 
- Tỉ lệ ánh sáng giữa bề mặt và hậu cảnh phải có độ tương phản lớn, tối thiểu tỉ lệ là phông 1:3 hoặc 4 
- Tỉ lệ trên bề mặt tối thiểu là 1:2 
Đặt đèn:
Độ cao của đèn tùy thuộc vào thời điểm và ánh sáng hiện thực, căn cứ thêm vào hướng chuyển động của đối tượng. Đèn phụ nhiều giải pháp, có thể trùng với trục máy, có thể 50 độ –>70 độ, phụ thuộc vào ánh sáng hiện thực bối cảnh.

*Ngoại đêm: 
Dùng gam màu chủ đạo là xanh nhạt, màu lạnh ..

3. Chiếu sáng hiệu quả nội ngày:
- Tỉ lệ ánh sáng bề mặt và phông là 1:1 
- Tỉ lệ ánh sáng trên bề mặt tối thiểu là 1:2 Đèn phụ cắm trùng trục máy đến đối tượng.

4. Ngoại ngày Kết hợp ánh sáng tự nhiên với ánh sáng nhân tạo tạo ra ánh sáng hiện thực theo nguyên tắc thì căn cứ vào ánh sáng hiện thực để từ đó đi đến quyết định sử lí ánh sáng. Thông thường trong 1 đoàn làm phim cần có chuyên gia lo riêng về ánh sáng. Một số ý kiến còn cho rằng chính người phụ trách ánh sáng là người thổi hồn vào cho bộ phim, vì một cảnh vật xấu xí khi được chiếu sáng bỗng bừng lên sức sống. 
- Chuyên viên ánh sáng thường cầm theo thiết bị đo sáng để tính toán với các đơn vị như : 
+ nhiệt độ Kenvin + độ Lux + cường độ Lumen + hay độ tương phản Candela.
Tác nghiệp

5. Ngoài ánh sáng mặt trời và các tấm phản quang, chuyên viên ánh sáng còn sở hữu rất nhiều loại đèn khác nhau, mà về cơ bản có đèn chính, đèn phụ phủ thêm, đèn chiếu phông, hay đèn đánh ngược từ phía sau => Đây cũng chính là 4 nguồn sáng cơ bản dùng trong điện ảnh, nhưng đạo diễn có thể quyết định giảm bớt hay tăng thêm, hoặc thay đổi góc chiếu đèn để thể hiện ý đồ muốn thể hiện. Thông thường các tấm phản quang và tấm lọc sáng còn chia thành hai loại, dùng để tạo cảm giác ánh sáng ngoài trời hay trong nhà, buổi sáng hay buổi tối. 
Một vài vi dụ để chúng ta hình dung : 
*Ác quỉ 
- Nguồn sáng chính thường chiếu từ phía trước vào mặt diễn viên. Nếu nguồn sáng này chiếu chếch từ dưới lên sẽ khiến mặt cô diễn viên xinh đẹp trở thành hung thần ác quỉ trong phim kinh dị. (Nhất là trong phim kinh dị Mĩ) => Các bạn có thể thử bằng cách bật đèn pin chiếu từ dưới cằm lên mặt rồi xem lại mình trong gương phản chiếu. 
*Thiên thần 
- Ngược lại với cách chiếu đèn từ dưới lên là chiếu từ trên xuống. Nếu làm thử các bạn sẽ có cảm giác người trong gương trông giống như là thiên thần với ánh sáng tỏa dần từ trên tóc xuống hai bên và ra xung quanh. 
- Theo lối quay phim truyền thông thì sử dụng nguồn sáng tự nhiên luôn được ưu tiên hàng đầu tuy nhiên <=> Đối với cách sử dụng ánh sáng theo lối hiện đại, khi xem phim, khán giả sẽ không có cảm giác và không nhận ra có ánh sáng nhân tạo chiếu vào. Họ sẽ tin rằng đó là nguồn sáng tự nhiên, nguồn sáng thật. Có nghĩa là nếu ở trong một căn phòng, ánh sáng có thể đến từ một nguồn nào đó, chẳng hạn như một ngọn đèn hay từ một cánh cửa sổ mở. Điện ảnh một số nước cũng có xu hướng sử dụng ánh sáng tự nhiên, đặc biệt là trong những đại cảnh. Họ có thể thêm một chút ánh sáng nhân tạo để cảnh đậm sắc hơn, hoặc tôn tính cách nhân vật được mạnh mẽ hơn việc làm này vẫn không làm khán giả nghĩ rằng đó là ánh sáng giả… Tóm lại ánh sáng chiếu vào nhân vật phải phù hợp với bối cảnh, phải đạt hiệu quả cao nhất, nếu ánh sáng được chiếu quá cụ thể thì người xem sẽ bị thu hút bởi bối cảnh mà ko chú ý đến nhân vật và cảnh đó xem như hỏng, cảnh phải tôn vinh nhân vật…. Ngoài ra tránh tránh lạm dụng quá nhiều ánh sáng dẫn đến tình trạng ”chói lóa ” vì nếu có quá nhiều ánh sáng rọi vào hậu cảnh thay vì phải chiếu sáng chủ thể…

Nếu không lưu ý điều này, thì đoạn phim ngập tràn ánh sáng mà gương mặt chủ thể thì tối sầm..

Nguyễn Ngọc Chiến

Thứ Năm, 10 tháng 7, 2014

Cách sử dụng đèn trong studio





Ánh sáng quyết định chụp ảnh. Đây là bài về ánh sáng studio trong thể loại chụp ảnh chân dung được Lavender chia sẻ . Tác giả dùng đèn studio để minh họa các hướng sáng, nguồn sáng đơn và nguồn sáng kép, kết hợp nhiều nguồn sáng cho một đối tượng đồng thời. Qua bài cơ bản này, khi chụp ngoài trời, ngoại cảnh hoặc ở bất cứ hoàn cảnh nào khác, bài viết này cũng là kiến thức cơ bản về ánh sáng để các bạn có thể ứng dụng.
Giới thiệu các đèn cơ bản với ánh sáng phòng chụp chân dung

1- Đây là nguồn sáng đèn background. 
Đó là chiếc đèn có mục đích chiếu sáng vùng hậu cảnh và sẽ giúp nổi khối chủ thể hoặc tạo vùng viền chủ thể (ven). Đèn này cũng giúp bạn đánh mất bóng đổ vào hậu cảnh nếu có. Bạn đặt đèn chiếu xéo góc vào hậu cảnh, nền phía sau.

Ảnh chỉ đánh đèn background

2 - Đây là nguồn sáng tóc, hay gọi là đèn tóc.
Nó thường được đặt cao hơn chủ thể và phía sau chủ thể đánh góc cao đánh xéo hướng sáng xuống tóc. Đèn này giúp tạo cho hình ảnh có bộ tóc mượt, khỏe và ấn tượng hơn. Có người gắn softbox cho cả đèn này, nhưng thường thấy là một softbox dạng tổ ong để ánh sáng tản đều và mềm; kèm theo softbox tổ ong là có một số kính màu nếu bạn muốn ven tóc lên màu vàng, đỏ, xanh… tùy ý. 


3 - Đây là nguồn sáng “kicks”,
Tạo một vùng sáng nào đó muốn nổi bật hơn trên chủ thể, thường người ta đánh vào dãi tóc; góc sáng có khi chéo hoặc nghịch lại đối diện với nguồn sáng của đèn chính. Nguồn sáng nghịch này làm cho vùng tóc sáng lên và nguồn sáng đèn chính gặp dãi sáng này sẽ tạo cho mái tóc mẫu rõ nét 

Ảnh chỉ đánh đèn kicks

Nhiều người kinh nghiệm khuyên dùng đèn này đánh ven lên mặt nếu chụp mẫu nam, để lấy vùng sáng bộ râu, đường trán xuống mũi, nhưng với mẫu nữ thì họ lại khuyên tránh đánh đèn này vào khuôn mặt, vùng vai, vùng ngực…

4 - Sau đây là nguồn sáng chính.
Nguồn sáng này trực diện với khuôn mặt hoặc góc chiếu nguồn sáng tròn trĩnh nhất với vùng sáng đủ cho chủ thể. Chỉ có nó là nguồn sáng chính. Nó tạo nguồn sáng rộng và mềm nếu bạn dùng softbox tản và lọc sáng. Hoặc nó sẽ tạo ánh sáng chát mạnh thẳng vào chủ thể khi bạn dùng softbox phản chiếu hình cầu.

Ảnh chỉ đánh đèn chính (key light)

5 - Nguồn sáng fill.
Đây là nguồn sáng thường đặt đàng sau máy chụp và chiếu đủ sáng vùng chụp. Nguồn sáng này cũng có mục đích giúp ống kính nhận ra chủ thể và lấy nét. Nguồn sáng này sẽ phải đảm bảo vừa đủ thấy chi tiết trong ảnh. Nguồn sáng này chiếu thằng vào mặt mẫu. Ánh sáng đèn này yếu hơn từ 2 – 3 stops so với đèn chính.

Nguồn sáng Fill 

Và, đây là hình ảnh cuối cùng khi tất cả các đèn trên được đánh đồng thời. Một kiểu pose truyền thống với mẫu nữ nghiêng đầu làm dáng đấy!
Trên tóc lên ven vừa đủ mềm mại; ánh sáng phần mặt mẫu không bị đổ bóng, tạo khối phần mũi; dãi tóc lên chi tiết nhưng vẫn mượt; hậu cảnh tách khối chủ thể không bị bẹt, dính mẫu với hậu cảnh. Đó là những ý cơ bản! 


Toàn cảnh setup đèn như sau:

* Một đèn phía sau đánh sáng hậu cảnh.
* Một đèn đánh tóc.
* Một đèn kicks vùng sáng muốn lên chi tiết nổi bật.
* Một đèn fill sáng toàn cảnh vừa đủ.
* Một đèn từ góc trái được định vị là ánh sáng chính.


Bài cơ bản cho người bắt đầu. Mời các bạn tiếp tục bổ sung.
Chúc các bạn có nhiều ảnh đẹp!

Theo Vua Nhiếp Ảnh

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

Xử lý âm thanh trong phim truyện (Bài 7)

Xử lý âm thanh trong phim truyện (Bài 7)

VTVTC: Website daotao.vtv.vn đi vào hoạt động từ 12/4/2013. Điều làm chúng tôi rất vui là những thông tin phản hồi tích cực từ các đồng nghiệp trong cả nước. Hơn thế, nhiều đồng nghiệp còn sẵn sàng chia sẻ với daotao.vtv.vn những kiến thức, kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình làm nghề và học tập.
Xin trân trọng giới thiệu bài viết thứ bẩy ” Xử lý âm thanh trong phim truyện” của Thạc sĩ Bùi Thái Dương- Trưởng phòng Đạo diễn và Quay phim – Ban Thể thao – Giải trí và Thông tin kinh tế- Đài truyền hình Việt Nam.
Lời thoại
Trong phim câm, hình ảnh nói được rất nhiều nhưng vẫn phải dùng những phụ đề để làm rõ hơn thông điệp của hình ảnh, dần dần, cùng với  sự phát triển của công nghệ, người làm phim đã cho nhân vật nói được tiếng nói của mình. Tuy nhiên lời thoại trong phạm trù của ngôn ngữ điện ảnh chỉ được vang lên khi cần thiết và được tiết chế tối đa ở từng câu, thường mang tính chất rất đời, đôi khi mang đậm tính hài hước nhưng sắc sảo và thông minh. Chú ý khi sử dụng thoại kiêng dùng quá nhiều điển tích, thổ ngữ và cổ ngữ.
          Có thể lấy một ví dụ thú vị trong phim Đời cát (đạo diễn Nguyễn Thanh Vân). Để chuẩn bị đón tiếp “bà hai”, ông Cảnh đào hũ rượu chôn dưới đất lên để uống lấy sức (!). Thấy thế bà Thoa (vợ cả) hỏi: “Sao biểu chôn sáu tháng mới uống được?”. “Chà, uống quách đi cho rồi”. Bà Thoa không nói gì, vào buồng rũ chiếu, vui vẻ nói với Tâm (bà hai):  “Cả đời mới gặp nhau, chị em mình ngủ chung cho vui, nghe thím”. “Dạ. Tâm gượng cười đáp”. Ông Cảnh lẳng lặng đổ ly rượu vừa rót vào hũ. Trong đêm, cùng dưới một mái nhà, cả ba nhân vật đều trằn trọc khó ngủ. Tâm ngồi dậy. Phòng ngoài, ông Cảnh nhổm người nhìn sang… Bà Thoa hỏi: “ Đang sớm mà thím”. “Dạ, em ra sân hóng gió”. “Nóng hả thím?”
        “Nóng hả thím?”, câu hỏi của bà Thoa thật “đắt” trong trường hợp này, khi hai người đàn bà nằm chung một giường giữa đêm hè nóng nực, người nọ thao thức để canh chừng người kia, trong khi một người đàn ông nằm nhà ngoài cũng ruột gan cồn cào như lửa đốt. Và một tiếng cười ý nhị bật lên trong khán giả khi chứng kiến hoàn cảnh trớ trêu của ba nhân vật, mà trung tâm là bà Thoa với mọi nỗ lực ngăn cản sự gần gũi giữa chồng mình và cô vợ hai, chỉ với vài câu thoại cũng đủ bộc lộ lên tính cách, tâm tư tình cảm của người phụ nữ này.

Cảnh trong phim Đời cát của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân
 Âm nhạc
Đạo diễn Nga S. Eisenstein đã nói: “Chính âm nhạc khái quát ý tưởng của hình ảnh”, qua đó khẳng định ý nghĩa, chức năng của nhạc phim. Nhạc phim có khi đơn thuần dùng để minh họa hình ảnh mang tính chất giải trí nhưng cũng có khi là nhân tố cấu thành vô cùng quan trọng để biểu hiện ý tưởng nghệ thuật và kịch tính của tác phẩm. Đạo diễn phải xử lý tạo hình của nhạc phim như thế nào để có được những hình tượng âm nhạc phù hợp với hình tượng nhân vật, đồng thời kiểm soát được việc xử lý âm nhạc ngay cả trong những tình tiết ngắn. Cảnh hành quyết tù binh trong bộ phim Đêm dài 1943 (1960) được ghép nhạc bằng hành khúc phát xít tưng bừng hay hình ảnh hạnh phúc ở cuối phim Ly dị kiểu Ý (1961) diễn ra dưới âm hưởng của hành khúc tang lễ. Đặc biệt, ý nghĩa của âm hình chủ đạo trong nhạc phim đã đạt đến bước tiến triển vượt bậc, nó bao quát và biểu hiện ý tưởng nghệ thuật ngầm của bộ phim mà đôi khi không thể diễn tả hết bằng hình ảnh, chẳng hạn như chủ đề Jelcomine trong phim Italia Con đường (1954 – đạo diễn F. Fellini – âm nhạc Rota). Không hiếm khi nhạc phim không dùng để biểu hiện cảm xúc mà ngược lại – để kiềm chế cảm xúc như trong phim Pháp Bốn trăm cú đánh(1959 – đạo diễn Truffo – âm nhạc Konstaten). Ở đây, nhạc sĩ đã dựng nên hình tượng – chủ đề âm nhạc nghiêm khắc nhằm đòi hỏi khán giả đánh giá một cách khách quan đối với sự kiện trên màn ảnh. Nhạc phim có thể là tác phẩm âm nhạc được định hướng sáng tác cho bộ phim cụ thể nhưng cũng có khi được tập hợp từ các giai điệu, ca khúc và giao hưởng nổi tiếng. Rất nhiều bộ phim sử dụng âm nhạc của Bach, Mozart. Wagner … đạt hiệu quả cao, điều đó giúp cho người xem liên tưởng những sự kiện xã hội đương thời với những hình tượng truyền thống cao đẹp. Trong thể loại phim đặc biệt – phim âm nhạc – đạo diễn càng phải có những xử lý tinh tế bởi ở đây, âm nhạc không chỉ đảm nhiệm vai trò tổng quát mà còn trở thành nội dung chính của tác phẩm điện ảnh – thí dụ như các phim opera của những năm 80 La Traviatta, Carmenvà Otello. Ở các tác phẩm này, khán giả không phải thưởng thức Opera như một chương trình truyền hình với cảnh trí sân khấu mà được cảm nhận các tác phẩm âm nhạc vĩ đại như một bộ phim thực thụ – trong đó kết hợp nhuần nhuyễn cả hai yếu tố – âm nhạc và hình ảnh. Nhiều bản nhạc phim đã vượt xa ý nghĩa khiêm nhường như một nhân tố cấu thành của tác phẩm điện ảnh và trở thành các hình tượng nghệ thuật bất hủ, ví dụ như âm nhạc cho bộ phim Nga Bão tuyết của nhạc sĩ Sviridov. Mỗi khi nhắc đến bộ phim này, đầu tiên, người ta thường nghĩ ngay đến âm nhạc, sau đó mới đến nỗi dung của bộ phim. Có lẽ chính vì vậy mà nhạc phim Bão tuyết luôn nằm trong danh mục biểu diễn của các Philharmonic danh tiếng trên thế gới. Không những thế, người ta còn sáng tác cả vở balet lớn dựa trên âm nhạc của bộ phim này. Âm nhạc đóng một vai trò quan trọng, không chỉ làm nền, tạo hiệu ứng cho hình ảnh và lời thoại mà còn truyền cảm hứng cho cả một bộ phim [53]. Một ca khúc hay bản nhạc cũng dễ được quảng bá hơn khi xuất hiện trong các bộ phim. Rõ ràng, âm nhạc và điện ảnh có mối quan hệ tương hỗ mà nếu làm tốt thì cả hai đều có lợi và tạo thành những tác phẩm nghệ thuật có giá trị riêng, như nhạc sĩ Trọng Đài từng nói: “Một ca khúc trong phim nếu xuất sắc sẽ tách khỏi bộ phim và có đời sống riêng với sức sống riêng của nó”.
         Một trong những minh chứng cho sự tài hoa của đạo diễn trong xử lý tạo hình nhạc phim, đó là bộ phim Titanic (1997) kể về vụ đắm tàu Titanic – một trong những sự kiện kinh hoàng nhất thế kỉ 20 và mối tình nồng thắm vượt trên mọi rào cản của 2 nhân vật trẻ tuổi Jack và Rose. Với sự dàn dựng của James Cameron, Titanic đã trở thành một trong những bộ phim nổi tiếng nhất mọi thời đại, đã đạt kỉ lục về số giải thưởng Oscar (11 giải ) trong đó có một giải thưởng danh giá dành cho âm nhạc xuất sắc nhất. James Cameron đã tỏ ra là một đạo diễn rất tinh tế và nhạy cảm trước những chuyển động đầy hình khối và màu sắc của hình ảnh và âm thanh. Ông đã kết hợp được sức mạnh tổng hợp của hiệu ứng hình ảnh và hiệu ứng âm thanh. Ta có thể thấy ngay ý đồ của tác giả trong bộ phim là nhấn mạnh vai trò âm nhạc, đưa âm nhạc trở thành yếu tố chủ đạo, xuyên suốt bộ phim. Với sự hoành tráng trong dựng cảnh và sự bề thế của âm nhạc đã đưa người xem đi hết từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, đi từ những sự rung động nhẹ nhàng đến sâu sắc. Chủ đề âm nhạc chính trong bộ phim là tình yêu đôi lứa, là trái tim dũng cảm vượt lên mọi rào cản để được ở bên nhau. Có thể nói, âm nhạc trong phimTitanic như một bản nhạc giao hưởng lớn mà mỗi trường đoạn của bộ phim là một phần của bản giao hưởng đó. Âm nhạc góp phần thể hiện mọi cung bậc cảm xúc của nhân vật, cũng như làm tăng thêm sự kịch tính và hấp dẫn trong từng dây, từng phút của bộ phim. Âm nhạc là chủ đạo, chính âm nhạc đã tạo ra không gian âm thanh đa chiều cho bộ phim.
Tiếng động
Trong phim, tiếng động giúp hướng sự chú ý của người xem vào nó. Giả sử chúng ta có cận cảnh một người đàn ông trong phòng và chúng ta nghe thấy tiếng cót két của cánh cửa đang mở. Nếu đúp quay tiếp theo là cánh cửa , bây giờ đã mở thì sự chú ý của người xem có lẽ sẽ chuyển sang cánh cửa đó. Nhưng nếu đúp quay thứ hai thể hiện cánh cửa vẫn mở, người xem dường như sẽ ngẫm nghĩ về cách hiểu tiếng động đó của mình. Do vậy tiếng động có thể làm rõ các sự kiện hình ảnh, phủ định chúng, hoặc làm chúng mờ nhòa đi. Trong mọi trường hợp, tiếng động có thể có quan hệ tích cực với hình ảnh. Ví dụ về cánh cửa đang mở này gợi mở lợi thế nữa của tiếng động. Nếu chúng ta nghe tiếng cánh cửa cót két, chúng ta sẽ phán đoán có ai đó vào phòng và chúng ta sẽ thấy người đó ở đúp quay tiếp theo. Nhưng nếu phim đi theo thể loại phim kinh dị thì máy quay có thể dừng lại ở con người đang bắt đầu hoảng sợ ở đó. Do đó chúng ta sẽ ở trong trạng thái hồi hộp giống như quỷ hiện diện ngoài màn ảnh. Những phim kinh dị và huyền bí thường sử dụng uy lực của tiếng động từ một nguồn vô hình khiến công chúng hứng thú, song tất cả các loại phim đều có thể tận dụng ưu thế này. Tùy từng cách xử lý của đạo diễn có thể đánh lừa hoặc tái định hướng một cách sáng tạo mong đợi của người xem, tạo ra những hiệu quả cao với người xem.
Bùi Thái Dương
Đài truyền hình Việt Nam

Đạo diễn với nghệ thuật quay phim ( Bài 6)

Đạo diễn với nghệ thuật quay phim ( Bài 6)

VTVTC: Website daotao.vtv.vn đi vào hoạt động từ 12/4/2013. Điều làm chúng tôi rất vui là những thông tin phản hồi tích cực từ các đồng nghiệp trong cả nước. Hơn thế, nhiều đồng nghiệp còn sẵn sàng chia sẻ với daotao.vtv.vn những kiến thức, kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình làm nghề và học tập.
Xin trân trọng giới thiệu bài viết thứ sáu ” Đạo diễn với nghệ thuật quay phim ” của Thạc sĩ Bùi Thái Dương- Trưởng phòng Đạo diễn và Quay phim – Ban Thể thao – Giải trí và Thông tin kinh tế- Đài truyền hình Việt Nam.

Đạo diễn Bùi Thái dương tác nghiệp tại Trường Sa

Bố cục và chiếu sáng
Bố cục khuôn hình điện ảnh là sự sắp xếp các vật thể, bối cảnh, ánh sáng, chuyển động nhân vật, góc độ máy sao cho tổng thể đạt tới sự cân đối, đôi khi là ấn tượng của thị giác. Bố cục được xem là ổn thoả khi trong nó không có sự dư thừa, rối rắm. Nhưng một bố cục khung hình đẹp đòi hỏi nhiều thứ khác, trong đó có điểm mạnh.
Không như sân khấu, điện ảnh cho phép người quay phim cắt cúp thân thể, vật thể, cho phép những cận cảnh rất chặt. Điều đó – một gương mặt cắt ngang trán, một mái nhà hất cao chẳng hạn – khiến bố cục khung hình điện ảnh trở nên độc đáo, ấn tượng. Khuôn hình điện ảnh có năm kích cỡ căn bản: đặc tả, cận cảnh, trung cảnh, toàn cảnh, toàn cảnh rộng. Đặc tả khi máy dí sát vào đối tượng để nhận ra một chi tiết. Bố cục điện ảnh hoàn chỉnh là một bố cục không chỉ nhắm tới cái đẹp, cái lạ mà góp phần tạo nên kịch tính. Vì vậy đòi hỏi mỗi đạo diễn cần thể hiện khả năng của mình trong việc tạo hình để có những bố cục đẹp cho phim.
Ánh sáng là chất liệu đầu tiên của việc thu hình, là nguyên tắc kỹ thuật – bảo đảm đúng sáng chẳng hạn – nhưng cùng lúc cũng là nơi biểu hiện tâm hồn, phong cách của đạo diễn: người ưa tương phản, người thích mượt mà, sáng trưng, hoặc người thích sự lung linh mờ ảo.
Đạt được hiệu quả đặc biệt và thấy rõ ràng nhất là ở trong phim Mùa len trâu của đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh. Cảnh sông nước buổi bình minh, sông nước buổi chiều và cảnh đêm xuống. Ánh sáng trong phim tạo cho người xem trở về với miền quê của Việt Nam, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long mùa nước nổi. Tất cả những hiệu quả đó tùy thuộc cách đặt sáng, độ nhạy của phim, chế độ in tráng. Nhưng trên hết, tuỳ thuộc cảm quan người đạo diễn với nghệ thuật quay phim. Đạo diễn cần bàn bạc với người quay phim để phác hoạ sơ đồ đặt sáng trước khi quay, dù mọi toan tính có thể lệch do khách quan thay đổi. Cách chiếu sáng hiệu quả trong điện ảnh rất mênh mông, tùy theo những xử lý khác nhau phù hợp mục đích tác giả.

Đoàn làm phim Mùa len trâu tác nghiệp
Với ánh sáng thẳng, khi nguồn sáng chính chiếu trực diện vào đối thể, hình ảnh sẽ rõ nhưng không cho hình khối. Đây là cách chiếu sáng đơn giản, an toàn, chân phương nhất nhưng ít nghệ thuật nhất. Ở đây là cách chiếu sáng ngược: khi nguồn sáng chính nằm sau lưng đối thể, cách chiếu sáng cho độ tương phản rất cao, chi tiết đối thể không rõ, nhưng nổi bật hình khối nhờ các viền sáng ngược. Và đó còn là cách chiếu sáng ven: Là nguồn sáng trung dung giữa 2 cách chiếu sáng kể trên, được dùng nhiều trong điện ảnh bởi nó cho cảm giác mọng mượt, vừa nổi khối, vừa thấy rõ chi tiết.
          Yêu cầu về ánh sáng trong mỗi bộ phim rất khác nhau, và căn cứ vào ý tưởng nghệ thuật cùng yêu cầu của từng đạo diễn. Người đạo diễn cần đưa ra những ý đồ nghệ thuật cũng như quyết định ánh sáng của phim với người phụ trách ánh sáng.
Ở đây ánh sáng ảnh hưởng mật thiết đến sự thành công của một bộ phim. Nói cho cùng, tất cả những công việc sản xuất như phông màn, đạo cụ, tài năng…. đều phải dựa vào ánh sáng mới nổi bật được. Ánh sáng ẩu dễ làm hư một tác phẩm nghệ thuật, và ngược lại, ánh sáng đẹp sẽ làm tăng thêm giá trị một bộ phim bình thường.  Kinh nghiệm và phong cách là những yếu tố cần thiết để đạo diễn chọn một người quản lý ánh sáng. Kinh nghiệm rất quan trọng. Lo ánh sáng cho một góc quay hay nhiều góc quay cùng một lúc là những chuyện rất khác nhau. Nhiều người phụ trách ánh sáng đã vô cùng lúng túng khi tìm cách lên đèn cho một cảnh sử dụng nhiều máy quay ở các góc độ, nhất là khi họ đã quen với kiểu quay một máy. Nói về phong cách, đó là khả năng ghi nhớ bối cảnh của một bộ phim.
Ví dụ trong một bộ phim khung cảnh đồng quê, phụ trách ánh sáng cần chú ý hạn chế kiểu ánh sáng thành thị màu mè.Phụ trách ánh sáng phối hợp chặt chẽ với đạo diễn để cùng làm tôn lên phong cách nghệ thuật của một bộ phim. Có câu chuyện kể rằng khi một vị đạo diễn nổi tiếng và đáng kính được các sinh viên hỏi điều gì quan trọng nhất họ có thể làm để nâng cao chất lượng hình ảnh, ông đã trả lời: “Hãy thuê người phụ trách ánh sáng tốt nhất có thể, thậm chí chia một phần lương của mình cho anh ta” .
Đạo diễn cần phải hiểu rõ về ánh sáng và đưa ra ý đồ của mình với người phụ trách ánh sáng vì khi quay phim thường sử dụng ánh sáng từ các hướng khác nhau để quay cận cảnh mặt diễn viên. Đôi lúc trong những cảnh nhiều máy quay phim ở các góc độ, không sử dụng ánh đèn nào cả. Nhà quay phim điều khiển máy quay, kiểm tra và chịu trách nhiệm về các đoạn phim đã thực hiện: ánh sáng, góc nhìn, hình ảnh và sự diễn đạt âm thanh.
Đạo diễn cần nắm rõ cấu tạo của máy quay và thường giải quyết những vấn đề kỹ thuật xảy ra trong suốt quá trình làm phim trong khi quay phim thì thạo sử dụng ánh sáng với nhiều kiểu và độ nhòe khác nhau. Trong những cảnh hoành tráng, đạo diễn thường quản lý nhiều nhà quay phim lo riêng về các chuyển động của máy quay.

Cảnh trong phim Mùa len trâu
 Tông phim và màu sắc
          Màu sắc chủ đạo trong phim phụ thuộc vào độ đậm nhạt của nó trong hình, cũng giống như trong hội họa, sẽ kết hợp với những yếu tố khác để tạo ra những hiệu quả hình ảnh đặc biệt. Tùy vào từng nền văn hóa mỗi màu sắc cũng có những ý nghĩa đặc trưng một cách khách quan. Màu xanh lá cây tượng trưng cho hy vọng, màu đỏ tượng trưng cho bạo lực…Nhưng màu sắc và những yếu tố hình ảnh, âm thanh trong phim sẽ kết hợp với nhau và làm thay đổi những nền tảng khách quan này. Như vậy là màu sắc có một khả năng biểu cảm thực sự cả khi nó đứng riêng rẽ hay khi kết hợp với sự lựa chọn ống kính, với các động tác máy
          Tuy nhiên màu còn tùy thuộc vào độ đậm đặc của nó trong khuôn hình. Cũng giống như trong hội họa, sẽ kết hợp với những yếu tố khác để tạo ra những hiệu quả hình ảnh đặc biệt.
          Ví dụ như trong phim Đôi cánh của đam mê (đạo diễn Wenders), một phần lớn của phim được quay đen trắng. Khi diễn viên chính, Bruno Ganz, một trong các thiên thần quyết định là sẽ sống trên mặt đất, chấp nhận mất cánh, sống với những nỗi đau cũng như những niềm vui của loài người thì hình ảnh chuyển sang có màu. Trong phim này màu tượng trưng cho trần gian và đen trắng tượng trưng cho cuộc sống trên thiên đường nhưng có vẻ như nặng nề bởi tính vĩnh cửu.
Đa số các phim được làm là phim màu nhưng những cảnh quay đen trắng có thể được sử dụng để tạo ra một không khí kịch tính với vẻ siêu thực, phù hợp cho trí tưởng tượng phát triển. Sự lựa chọn này sẽ ảnh hưởng trực tiếp cảm nhận của khán giả về cả tác phẩm.
Các thủ pháp và góc độ quay phim
Đạo diễn phải tập trung suy nghĩ về sự chuyển động của cảnh và sự phối hợp giữa các cảnh. Góc quay là góc nhìn từ máy quay với chiều sâu, chiều dài, chiều rộng cân xứng với vật hay hành động được quay. Góc nhìn từ máy quay không chỉ quyết định cái gì sẽ xuất hiện trong cảnh đó mà nói chung còn là cách khán giả sẽ nhìn sự việc – gần hay xa, từ trên xuống hay từ dưới lên, chủ quan hay khách quan… Do đó sự chọn góc quay không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ câu truyện mà còn thể hiện chất lượng thẩm mỹ của cảnh quay và quan điểm tâm lý của khán giả. Có những quy ước quan sát quốc tế dành cho chuyển động máy quay. Theo quy định, một nhà quay phim sẽ chạy máy quay ở vị trí nhất định trong một thời gian ngắn trước khi bắt đầu chuyển động, và đứng im một lần nữa sau khi hoàn tất chuyển động. Một cách nhìn thoáng hơn về luật này là chuyển động bắt đầu và kết thúc ở một điểm đặc biệt nào đó đã được chọn sẵn và quay tập nhiều lần trước khi quay chính thức.
Đạo diễn trong trường hợp này phải quyết định chuyển động máy, ví dụ sau một cảnh quay ngang từ trái sang phải không thể nào có cảnh quay ngang từ phải sang trái, hay là sự chuyển động của nghệ sĩ từ trái sang phải không thể theo sau một sự chuyển động khác từ hướng ngược lại. Ngoài kiểu quay thường còn có kiểu quay cầm tay, một máy quay xách tay nhẹ cân cầm trên tay của nhà quay phim và dựa vào vai của người đó mà không cần dùng chân chống. Kiểu quay này bắt nguồn từ nhà quay phim thời sự và được sử dụng rộng rãi trong các phim tài liệu và những nhà làm phim tiên phong. Đầu những năm 60’ việc sử dụng máy quay phim cầm tay trong việc sản xuất phim điện ảnh ngày càng tăng, vừa tiện lợi vừa đạt được cảm giác thật hơn trong một số cảnh quay.
Có thể nói đặc tính của điện ảnh là chuyển động, điếu đó không có nghĩa máy quay nhất thiết phải luôn luôn xoay trở. Chuyển động điện ảnh bao hàm sự chuyển động của máy, chuyển dịch của các đối thể, chuyển động của nội tâm, tính vận động của toàn câu chuyện. Kỹ thuật chia sự “xê dịch” có hai kiểu chính: Lia (pan) và trượt (dolly, travelling). Lia là sự quét máy từ hướng này sang hướng khác, cả chiều ngang lẫn chiều xéo , chiều dọc theo đưởng thẳng. Dolly – hay travelling là sự đeo bám đối tượng trên mặt đất, theo đường thẳng, đường cong hoặc đường tròn. Bằng sự chuyển dịch có ý thức của máy, của ánh sáng sẽ tạo ra những khuôn hình đẹp. Cái đẹp là đích đến của điện ảnh.
Tác phẩm điện ảnh là “cái nhìn” của đạo diễn, được thể hiện qua khuôn hình ở các góc quay khác nhau.
Góc quay là góc nhìn từ máy quay với chiều sâu, chiều dài, chiều rộng cân xứng với vật hay hành động được quay. Góc nhìn từ máy quay không chỉ quyết định cái gì sẽ xuất hiện trong cảnh đó mà nói chung còn là cách khán giả sẽ nhìn sự việc – gần hay xa, từ trên xuống hay từ dưới lên, chủ quan hay khách quan… Do đó sự chọn góc quay không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ câu truyện mà còn thể hiện chất lượng thẩm mỹ của cảnh quay và quan điểm tâm lý của khán giả. Qua nhiều năm, đạo diễn và nhà quay phim đã thành lập một kiểu quy ước liên quan đến kỹ thuật, thẩm mỹ và đặc tính tâm lý của nhiều góc quay khác nhau. Góc ngang (vừa tầm mắt) để diễn tả cảnh giống như thật nhưng ít kịch tính. Người ta cho là nó cung cấp cái nhìn bình thường và thường quay từ độ cao 1.2 m đến 1.8 m. Tầm mắt của nghệ sĩ (chứ không phải của nhà quay phim) quyết định chiều cao của máy quay, và đặc biệt chủ yếu trong những khi quay cận cảnh. Vì hướng nhìn bình thường nên cảnh quay góc ngang thường được sử dụng để tạo nên tình huống và chuẩn bị cho khán giả một cảnh liên quan. Trong cảnh quay góc cao máy quay nhìn xuống sự vật. Theo kỹ thuật thì nó có thể cho phép đạo diễn có cái nhìn bao trùm hết mặt đất và hành động trong chiều sâu. Cảnh như vậy cũng sẽ có khuynh hướng làm chậm hành động lại và giảm bớt độ cao của sự vật hay nhân vật (theo luật xa gần). Nét đặc trưng cuối cùng này có thể gây ra nhiều hiệu quả tâm lý phụ, ví dụ như cho khán giả cảm giác mạnh mẽ hơn nhân vật trên màn ảnh hay ngụ ý hạ thấp tầm quan trong của bất cứ nhân vật nào với những người hoặc khung cảnh xung quanh.
 Trong nghệ thuật quay có vài nguyên tắc thể hiện của góc máy: Máy hất lên cho cảm giác thanh thoát, tôn trọng.
Bộ phim Tướng về hưu (đạo diễn Khắc Lợi) là câu chuyện đau xót về những tình cảm gia đình đã mất đi trong cơn lốc của thời mở cửa, một vị tướng rời quân ngũ trở về gia đình và hoàn toàn lạc lõng trong một đời sống đang thay đổi với những giá trị bị đảo lộn hàng ngày.
          Tình cảnh gia đình ông Thuấn dường như rất phổ biến trong xã hội Việt Nam lúc giao thời, khi đồng tiền len lỏi và chi phối trong mọi mối quan hệ. Ông Thuấn như người xa lạ trong chính ngôi nhà của mình trước cô con dâu sắc sảo, người con trai nhu nhược và một bà vợ lẩn thẩn. Hình ảnh người tướng già đột qụy ở cuối phim trong tư thế nằm nghiêng ở cầu thang, một tư thế bó hẹp về góc máy.
Còn máy chúc xuống gây hiệu ứng trái ngược, khi mô tả khách quan máy không thể cao, thấp, xéo, nghiêng…tuỳ thích mà phải tương đương với mắt nhân vật; chỉ khi máy đại diện cái nhìn chủ quan tác giả thì góc độ mới tự do. Dù ở góc độ nào đi nữa, một tác phẩm điện ảnh “đẹp” là khi nó rung động trái tim người xem.

Một số hình ảnh phim tướng về hưu
Trong phim The Last Laugh  – Tiếng cười sảng khoái cuối cùng (đạo diễn Murnau), diễn viên Emil Jannings thường được quay từ trên xuống sau sự sụp đổ của ông, trong khi trước đó các cảnh miêu tả ông như là một ông gác cổng kiêu hãnh thường được quay ở góc thấp. Trong cảnh quay góc thấp, máy quay thường đặt ở dưới nhìn lên sự vật. Hiệu quả của cách này thường là để tạo kịch tính, tạo nên sự xuyên tạc quyền lực của viễn cảnh và toàn bộ sự việc. Nó thường đẩy nhanh diễn biến phim, thêm tầm cao và sức mạnh cho nhân vật. Sự sắp đặt máy quay góc thấp chiếm ưu thế trong phim Citizen Kane (Công dân Kane) của Orson Welles để làm nổi bật sự to lớn phi thường của ông trùm báo chí. Để chấp nhận việc thường xuyên sử dụng kiểu quay này, Welles đã phải xây dựng phim trường toàn là trần nhà. Chính sự có mặt khắp nơi của trần nhà ở cảnh nền đã tạo nên một trong những nét đặc trưng khác thường của Citizen Kane. Chỉ đơn thuần thay đổi góc quay, đạo diễn có thể không chỉ cho thấy sự thăng trầm trong cuộc đời nhân vật mà còn thổi vào thái độ khán giả phải chấp nhận qua những cá tính và hành động trong phim. Sự đa dạng trong các góc quay là vô tận. Không có luật lệ nào về chuyện phải sử dụng góc quay nhất định cho một cảnh nào đó. Góc ngang, góc cao và góc thấp chỉ là những nhóm chính, như là cách quay cạnh (thêm một chiều nữa cho sự vật), góc Hà Lan/ khung nghiêng (nhìn sự vật trong cái nhìn nghiêng hiệu quả cao) và rất nhiều góc quay khác được sử dụng cũng như chưa được biết đến qua bao nhiêu thập kỷ làm phim.
(Còn tiếp)
Bùi Thái Dương
Đài truyền hình Việt Nam

Xử lý tạo hình trong dựng phim (Bài 5)

Xử lý tạo hình trong dựng phim (Bài 5)

VTVTC: Website daotao.vtv.vn đi vào hoạt động từ 12/4/2013. Điều làm chúng tôi rất vui là những thông tin phản hồi tích cực từ các đồng nghiệp trong cả nước. Hơn thế, nhiều đồng nghiệp còn sẵn sàng chia sẻ với daotao.vtv.vn những kiến thức, kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình làm nghề và học tập.
Xin trân trọng giới thiệu bài viết thứ năm ” Xử lý tạo hình trong dựng phim” của Thạc sĩ Bùi Thái Dương- Trưởng phòng Đạo diễn và Quay phim – Ban Thể thao – Giải trí và Thông tin kinh tế- Đài truyền hình Việt Nam.

Đạo diễn Bùi Thái Dương và MC người mẫu Xuân Lan tại hiện trường
Nếu như văn học là sự sắp đặt ngôn từ một cách nghệ thuật để tạo nên tác phẩm thì điện ảnh là sự sắp đặt các hình ảnh một cách nghệ thuật. Tác phẩm điện ảnh là sự kết hợp của nhiều yếu tố: kịch bản, đạo diễn, máy quay, âm nhạc, ánh sáng, diễn xuất, dàn dựng. Trong đó đạo diễn đóng vai trò tổ chức, dàn dựng, diễn viên có vai trò tái tạo và truyền tải nội dung tư tưởng và chủ đề của tác phẩm điện ảnh. Cấu trúc của tác phẩm nghệ thuật điện ảnh lệ thuộc vào nghệ thuật dựng phim khi xét nó từ quá trình kịch bản văn học sang kịch bản phim, kịch bản phân cảnh đến dựng phim đó là cả một quá trình sáng tạo thể hiện ý đồ của đạo diễn trong việc tạo ra tác phẩm điện ảnh.
          Dựng phim bao gồm hai công đoạn được tiến hành song song, tạo ra tính liên tục bằng việc tổ chức các hình ảnh sao cho câu chuyện có ý nghĩa đồng thời tạo ra các hiệu quả phụ, gây ngạc nhiên bằng việc ráp nối những hình ảnh này và thông qua đó tạo cho tổng thể những hình ảnh mà ta sắp xếp có nhịp điệu, có sức sống.
          Thông qua dựng phim chúng ta có thể chia câu chuyện thành nhiều phần lớn, với phần mở đầu, phần giữa và phần kết. Nhờ đó chúng ta có thể giới thiệu địa điểm nhân vật, có những yếu tố mang tính chất xung đột, những diễn biến, giải pháp cho những xung đột. Nhờ dựng phim ta có thể đi từ thời gian thực tế sang thời gian điện ảnh, nơi mà cả cuộc đời người có thể được gói gọn chỉ trong 90 phút.
Có thể nói dựng phim là cha đẻ thứ hai của bộ phim. Vì vậy đạo diễn và người dựng phim cần phải cẩn thận, kiên nhẫn, có độ quan sát tốt, tinh tế trong hiểu biết chuyên môn, có tầm nhìn (cả ánh sáng, âm thanh, âm nhạc…) để luôn tạo cảm xúc đồng thời  ghi chú rõ về âm thanh (cần quay đồng bộ) về ngày tháng trong từng cảnh và lần quay.
Sự chuẩn bị tốt các khâu trên sẽ giúp người dựng thực hiện tốt các bước tiếp theo như : Sự kết nối hợp lý hai cảnh liền nhau; Phạm vi thay đổi kích cỡ hình ảnh và góc độ máy; Duy trì khả năng định hướng; Duy trì tính liên tục bền vững; Phù hợp ánh sáng và sắc độ; Tạo chuỗi âm thanh qua một cảnh cắt xác định thời gian, nhịp độ, nhịp điệu. Sự tinh tế xuyên suốt của thủ pháp dựng phim là cân bằng các trạng thái cảm xúc của diễn viên, lời thoại, âm thanh, hình ảnh chắc chắn góp phần sẽ mang lại sự hấp dẫn cho bộ phim.
Các thủ pháp dựng phim
Ý đồ của đạo diễn trong việc sắp xếp các cỡ cảnh: Toàn, trung, cận, đặc tả…hoặc các cảnh có động tác máy tương quan (hoặc khác nhau) cũng tạo ra những hiệu quả đặc biệt về thị giác cho người xem.  Công tác dựng phim không chỉ “ là linh hồn, là trái tim” của nghệ thuật điện ảnh, mà nó còn tác động mạnh đến với tư duy người xem qua sự tiếp xúc thị giác bằng việc sắp xếp các khuôn hình.
Trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên báo Thế giới điện ảnh, chuyên gia dựng phim nổi tiếng người Mỹ Folmer Martin Wiesinger đã chia sẻ thủ pháp để tạo ngôn ngữ điện ảnh hình thành nét đặc trưng rất riêng của ông  là “sự phá cách ( triệt để nhất với cấu trúc thời gian truyền thông ); Sự chính xác, thứ tự của các cảnh quay cùng âm thanh, ánh sáng, tiếng động. Cần biến đổi hình ảnh hóa bằng những phương pháp ẩn dụ và ngôn ngữ tượng trưng trong tất cả các miêu tả. Cấu trúc lẻ phim là hình ảnh của tâm lý, kịch tính, thay đổi theo sự thăng trầm của tâm lý nhân vật, áp dụng kỹ thuật giữ khoảng cách, sử dụng ống kính, góc máy thay đổi nhưng hợp lý, động tác máy luôn di động theo câu chuyện. Đó là những nét chấm phá hay một hình thức thể hiện ngôn ngữ điện ảnh rất cần khi dựng phim.
Trong điện ảnh có không ít hơn ba trào lưu nổi lên từ thập kỷ 20 là Chủ nghĩa ấn tượng-Làn sóng mới của Pháp, chủ nghĩa biểu hiện Đức, montage Xô viết (Montage kể chuyện, montage biểu hiện, montage song hành, mongtage ẩn dụ và montage trong ống kính).
Alfred Hitckock là đạo diễn nổi tiếng đi theo truyền thống của chủ nghĩa ấn tượng Pháp, với sự chính xác trong việc đặt máy quay, kết cấu khuôn hình đạt hiệu quả đặc biệt, chuyển động máy quay để truyền tải những gì nhân vật thấy và suy nghĩ. Tính chủ quan của nhân vật là yếu tố mẫu cho việc kể chuyện trong thời gian dài.
Trường phái biểu hiện Đức thường dùng những yếu tố huyền thoại siêu nhiên để làm biến dạng khuôn mẫu chung của phim với kỹ thuật dựng cảnh như đồ họa, diễn xuất của diễn viên cũng như một nhân tố thị giác, được phóng đại một cách có chủ ý, ánh sáng tương phản với những bố cục phức tạp. Những kỹ thuật đặc biệt này ảnh hưởng rõ rết đến những bộ phim có yếu tố ly kỳ rùng rợn của điện ảnh sau này.
Trào lưu montage Xô viết nổi tiếng với cách dựng mới. Đạo diễn Nga Kulesov đã ca ngợi lối kể chuyện súc tích của phim Mỹ, với quan niệm về montage chủ yếu là những kỹ thuật biên tập để gây hiệu quả về mặt tình cảm trong khi đạo diễn Nga Vertov thì cho rằng montage không chỉ là thủ pháp kỹ thuật đơn lẻ mà là cả một quá trình sản xuất từ việc chọn đề tài, quay phim, dựng phim . Đạo diễn Nga S. Eiseinstiene với quan niệm cảnh quay dù thế nào đi nữa cũng là yếu tố của montage-nhờ có sự xung đột của hai cảnh đối lập nhau. Những nét đặc trưng làm nổi bật phong cách montage là ở việc dựng phim trong khi muc đích của việc dựng phim liên tục là tạo ra ảo giác về dòng chảy phẳng lặng của thời gian trong cảnh quay, việc cắt cảnh của trường phái montage đã tạo qua quan hệ chồng chéo hoặc bị tỉnh lược về thời gian [Ngôn ngữ điện ảnh].
Hiệu quả của các thủ pháp dựng phim
Đạo diễn Nhật Bản Akira Kurosawa là người có công rất lớn khi nghĩ ra phương pháp dựng phim bằng cách cho các cảnh hồi tưởng đan xen với nhau về một sự việc. Kỹ thuật dựng phim này đã được vô số phim truyện, những tác phẩm kinh điển sau đó sử dụng lại, thậm chí nó còn được đưa vào giáo trình học của các trường lớp đào tạo đạo diễn chuyên nghiệp ở phương Tây. Thủ pháp này đã được ông sử dụng trong phim Rashomon-phim đầu tiên của châu Á đoạt giải Oscar cho phim nước ngoài hay nhất, (1951).
Ngay lúc mới ra đời, bộ phim Rashomon đã trở thành “đứa con lạc loài” của điện ảnh Nhật Bản, bị khán giả quê nhà ngoảnh mặt làm ngơ, sau đó có một phái đoàn điện ảnh người Ý tình cờ phát hiện bộ phim bị “bỏ rơi” này và mang ra giới thiệu với khán giả thế giới. Khi trình chiếu trên màn ảnh quốc tế, Rashomon đã trở thành người “anh hùng danh dự” của xứ sở Hoa anh đào, được các nhà phê bình điện ảnh thế giới đánh giá là kiệt tác của điện ảnh nhân loại, nó khiến cả thế giới phải thay đổi cái nhìn về người Nhật, họ không hẳn chỉ là những kẻ hiếu chiến, ngang tàng mà họ cũng có khả năng cảm thụ sâu sắc về nghệ thuật, lòng nhân bản, để tạo ra một tuyệt tác được lưu trong danh mục “Những bộ phim hay nhất mọi thời đại”. Đã hơn 60 năm trôi qua, sở dĩ Rashomon vẫn được nhắc đến và được dùng hai chữ “kiệt tác” để hình dung, là vì bước đột phá về cách kể chuyện cũng như những cống hiến của nó về kỹ thuật, nghệ thuật cho nghệ thuật thứ bảy còn tồn tại mãi đến ngày nay.
Cảnh trong phim chiến hạm Potemkin
Hay như ở trong phim Nga Chiến hạm Potemkin, ở cảnh quay người thủy thủ tức giận đập vỡ một cái đĩa, cử chỉ này lẽ ra chỉ diễn ra trong khoảnh khắc những đã được kéo ra tới 10 cảnh cực ngắn liên tiếp. Phương pháp thời gian chồng nhau này đã giúp nhấn mạnh hành động nổi dậy đầu tiên của cuộc binh biến. Những cảnh quay phim theo trường phái Montage đã tránh dùng các khuôn hình có độ cao đến ngực, sử dụng những góc quay linh hoạt hơn, quay thẳng theo quy ước. Khuôn hình ngược với góc thấp đặt các ngôi nhà hoặc người ngược với bầu trời làm cho diễn viên như bị đe dọa, hoặc biểu lộ sự dũng cảm. Lấy khuôn hình nghiêng hoặc lệch trọng tâm làm cho cảnh quay linh hoạt hơn, ưa thích việc đặt đường chân trời thật thấp trong khuôn hình, ánh sáng tương phản mạnh
Bên cạnh đó, kỹ xảo là yếu tố hấp dẫn, tạo hiệu quả về mặt tạo hình trong phim truyện. Thể hiện ánh mắt và cử chỉ của Caesar kết hợp với hiệu ứng kỹ xảo máy tính diễn xuất của Andy trong Rise of The Planet of The Apes (Sự nổi dậy của loài khỉ, bộ phim khoa học viễn tưởng của đạo diễn Rupert Wyatt) đã làm lu mờ cả nam chính James Franco. Khán giả dường như bị cuốn hút bởi những chú tinh tinh, đặc biệt là Caesar, hơn là tình cảm giữa nhà khoa học trẻ Will Rodman với cha, hay với nữ bác sĩ xinh đẹp Caroline (Freida Pinto thủ vai). Từ ánh mắt sâu thẳm cho tới những cử chỉ lúc sợ sệt, nhút nhát, lúc lại hoang dã, dữ tợn của Caesar qua diễn xuất của Andy Serkis có thể nói đã chạm tới được cảm xúc của người xem. Nhóm thực hiện kỹ xảo cho Rise of The Planet of The Apes chính là êkíp từng đạt giải Oscar với Avatar và The Lord of The Rings. Bằng kỹ thuật CGI (Computer Generated Image), các nhà làm phim đã thổi hồn cho những chú tinh tinh và tạo cho chúng một sự linh hoạt, sống động như khỉ thật trên màn ảnh rộng. Các góc máy chuyển động theo từng cú leo trèo, bước nhảy của các nhân vật này cũng rất linh động mà không tạo cho người xem cảm giác chóng mặt.
Bùi Thái Dương – VTV

Một số hạn chế trong xử lý tạo hình của các đạo diễn phim truyện (4)

Một số hạn chế trong xử lý tạo hình của các đạo diễn phim truyện (4)

VTVTC: Website daotao.vtv.vn đi vào hoạt động từ 12/4/2013. Điều làm chúng tôi rất vui là những thông tin phản hồi tích cực từ các đồng nghiệp trong cả nước. Hơn thế, nhiều đồng nghiệp còn sẵn sàng chia sẻ với daotao.vtv.vn những kiến thức, kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình làm nghề và học tập.
Xin trân trọng giới thiệu bài viết thứ tư ” Một số hạn chế trong xử lý tạo hình của các đạo diễn phim truyện” của Thạc sĩ Bùi Thái Dương- Trưởng phòng Đạo diễn và Quay phim – Ban Thể thao – Giải trí và Thông tin kinh tế- Đài truyền hình Việt Nam.

Đạo diễn Bùi Thái Dương
Sự thành công  về mặt hình ảnh của của bộ phim hoàn toàn phụ thuộc vào nghệ thuật tạo hình. Nếu từ khâu tạo hình,  đạo diễn chăm chút kỹ lưỡng, quan tâm, chú trọng về hình ảnh đặc biệt là chú trọng tới sức hấp dẫn, biểu cảm của tạo hình sẽ hứa hẹn bộ phim thành công.
          Lịch sử điện ảnh Việt Nam đã có rất nhiều bộ phim ghi lại dấu ấn đến ngày nay, được coi như những tác phẩm kinh điển của điện ảnh Việt Nam, đều có sức biểu cảm về tạo hình rất cao, đặc biệt là những hình ảnh ngoại cảnh tạo nên khí chất phù hợp với nội dung câu chuyện muốn nói , dù có thể là vẻ đẹp của sự giản dị, tinh tế chứ không chỉ là ở những cảnh quay dàn dựng hoành tráng, đặc biệt là những cảnh quay sông nước, với những hàm ý móc nối vào câu chuyện phim tạo nên chất thơ bay bổng cho tác phẩm. Tuy nhiên hiện nay, khi điện ảnh Việt Nam đang chuyển mình để thích nghi với sự phát triển của đất nước, những bộ phim điện ảnh được nhà nước đặt hàng, hay những bộ phim mang tính xã hội hóa, thì dường như khâu tạo hình còn có nhiều hạn chế, khiến khán giả không mặn mà với phim điện ảnh Việt Nam, đã vô tình tạo điều kiện cho phim ngoại xâm lấn. Chỉ một số ít phim được đạo diễn chăm chút cho đứa con tinh thần của mình, còn lại có khá nhiều phim điện ảnh bị hạn chế trong tạo hình, khiến không chỉ những người làm nghề tâm huyết, mà khán giả cũng bực bội và quay lưng lại. Có thể kể đến những bộ phim như Nàng men chàng bóng, Em hiền như msơ, Cảm hứng hoànhảo, Hello cô Ba…
          Nếu như trước kia, trong bối cảnh ngặt nghèo của chiến tranh, các đạo diễn, các nhà làm phim điện ảnh Việt Nam thế hệ đầu tiên đều phải tự mày mò, vừa học vừa làm, từ không có kinh nghiệm đã học hỏi những thủ thuật điện ảnh từ dòng phim nghệ thuật các nước và sáng tạo nên ngôn ngữ điện ảnh của riêng mình. Không ít những bộ phim điện ảnh nghệ thuật ra đời và ghi dấu ấn đến tận ngày hôm nay nhờ sự chú trọng đến khâu tạo hình. Đó là cách tạo hình trong phim Ga của cố đạo diễn Trần Đắc với con đường lượn bên những đồi lau, ánh chiều muộn in hình cây cột ghi trên nền trời mây vần vũ. Bóng người tuần đường lủi thủi đi trong cô đơn…Những cảnh quay được chọn lọc kỹ lưỡng trong ý đồ biểu hiện nhân vật, những cái đẹp tưởng như dung dị nhưng thực sự được trau chuốt, đầy chất thơ. Cũng có những tìm tòi thành công về tạo hình, ở phim của cố đạo diễn Trần Vũ đậm chất hội họa như trường đoạn trong chùa ở phim Đến hẹn lại lên, không khí âm âm mờ ảo qua các vì kèo gợi chất hội họa…
          Còn với các đạo diễn thế hệ sau của điện ảnh Việt Nam, tuy không phải là tất cả, nhưng không ít đạo diễn còn hạn chế tìm tòi, sáng tạo trong công tác tạo hình cho phim,  đã không gây được ấn tượng mạnh mẽ về cách thể hiện, hạn chế khám phá về nghệ thuật, thậm chí mắc phải những lỗi cơ bản trong phim và tất yếu là sẽ cho ra đời những bộ phim “thảm họa” mang đi chiếu rạp, rồi sau đó nhanh chóng bị rơi vào quên lãng,. Nhiều bộ phim rơi vào sự phản ánh không sát hiện thực, chưa khai thác hết nội dung cốt truyện, sự thật lịch sử hoặc lại chỉ đi vào thể hiện những câu chuyện cuộc sống đơn thuần, thiếu đột phá, nội dung chưa sâu sắc, lạm dụng nhiều yếu tố câu khách.
          Sau thành công của phim Gái nhảy (2003), một loạt các phim ăn theo như Lọ lem hè phố, Nữ tướng cướp, Những cô gái chân dài… Các nhân vật được thể hiện minh họa, thiếu đời sống, áp đặt lên con người những môtíp hành động cư xử như một lập trình sẵn có khiến phim trở nên nhàm chán và đánh mất khán giả, nhiều phim để nhân vật rơi vào tình trạng theo môtíp cũ, khô cứng. Nói đến con nhà giàu thì phải hư hỏng, nói đến giám đốc doanh nghiệp thì phải thủ đoạn, cô giáo thì phải nói năng mô phạm, công an thì phải nghiêm chỉnh. Như vậy có thể thấy tính rập khuôn khiến bộ phim khó có thể trở thành bộ phim nghệ thuật theo đúng nghĩa của nó.
Hiện nay hầu hết các phim đã trình chiếu đều làm theo phong cách hiện thực, trong đó mô tả cuộc sống và con người như nó vốn có với hàm ý giáo dục phê phán cái xấu đề cao cái tốt khá rõ. Điều đó nguyên nhân từ kịch bản vẫn đơn điệu về nhân vật và kiểu loại nhân vật: tốt – xấu, hoặc sợ khán giả không hiểu nên cố giải thích.
          Bên cạnh đó những phim khai thác theo đề tài truyền thống vẫn đi theo lối mòn mà không theo nhu cầu và trình độ của công chúng. Có thể kể đến các phim như Ký ức Điện Biên, Trung úy, Chớp mắt cùng số phận... Đây chính là những bộ phim điện ảnh nhà nước đặt hàng về đề tài chiến tranh và hậu chiến. Nhà nghiên cứu Phạm Ngọc Khương đã viết “ Quá nhấn mạnh chức năng phục vụ tư tưởng mà không thấy đúng mức tính chất hàng hóa của văn hóa điện ảnh trong cơ chế thị trường, quá nặng về giáo dục mà coi nhẹ mặt giải trí chính đáng của đông đảo công chúng sau chiến tranh, quá thiên về những chuẩn mực nội dung lý tưởng, hình thức nghệ thuật mới mẻ, trình độ kỹ thuật tiên tiến, hiện đại mà không thấy khả năng đầu tư thực tế của ta chưa cao”. Những hệ lụy thất bại đó là bởi lối mòn trong tư duy làm phim điện ảnh, mòn đến mức công thức trong mô tả ngoại hình, bối cảnh xuất hiện của nhân vật, kể cả những phim thành công nhất đôi khi vẫn xuất hiện nhược điểm này. Nếu nhân vật là kẻ xấu thì bối cảnh sinh hoạt, tạo hình bên ngoài từ cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt và tất cả những chi tiết mô tả định sẵn về nhân vật khiến nhiều nhân vật trở thành khái niệm, hành động theo những quy phạm có trước, chưa kể đến những công thức và sự căng cứng trong lời thoại làm giảm đi tính chân thực của nghệ thuật dàn dựng.
 Hạn chế trong xử lý kịch bản
Nghệ thuật luôn là sự kế tục, đồng thời cũng là con đường đầy mâu thuẫn, khó khăn để phủ định chính mình. Hơn lúc nào hết điện ảnh Việt Nam cần có những phong cách riêng, diện mạo riêng. Trong xử lý nghệ thuật mỗi đạo diễn cần là chính mình “Phim càng giống với đạo diễn sẽ càng mang tính riêng biệt và đạo diễn càng đam mê thì khan giả cũng sẽ đam mê, đồng cảm với đạo diễn”. Những độc đáo trong cách thể hiện, trong phong cách tạo hình sẽ tìm kiếm được từ cội nguồn văn hóa dân tộc Việt Nam, từ đặc tính dân tộc thể hiện qua các loại hình văn học nghệ thuật đã tồn tại hàng trăm năm trên đất nước này, cũng như sự vận dụng có sáng tạo những kinh nghiệm của các bậc thầy điện ảnh thế giới .
Trong phim Mùa ổi của đạo diễn Đặng Nhật Minh có trường đoạn cô em gái hồi tưởng lật lại những giấy tờ cũ của gia đình và tập giấy bị gió cuốn lốc đi qua lan can bay tung khắp đường, cô cuống quýt vồ lấy những tờ giấy.  Ở trường đoạn này đạo diễn đã dàn dựng mang đậm tính sân khấu, hành động của cô em bị cường điệu khi mà cô nhào ra nhặt tờ nào thì tờ đó bị người đi đường dẫm lên. Với cách dàn dựng gượng ép, thiếu tự nhiên đã không theo nhịp trần thuật thông thường của các cảnh quay khác, lộ sự dàn dựng của đạo diễn khi biến một cảnh hiện thực thành không hiện thực mà không có sự lý giải hợp lý về hình ảnh.
          Bên cạnh đó sự thiếu sót, lỗ hổng về bối cảnh, đạo cụ. Bối cảnh nhiều khi chỉ mang tính chất chung chung, không tham gia rõ rệt vào câu chuyện làm nên đặc điểm của nhân vật. Bàn tay của người họa sỹ chỉ dừng lại ở việc minh họa cho câu chuyện. Bối cảnh đô thị hay nông thôn chỉ thuần túy ở nét chung là giàu hay nghèo.
Vẫn biết làm điện ảnh không giống như phim tài liệu đòi hỏi mọi sự phải thật hoàn toàn như cuộc sống, nhưng bộ phim Hoađào của đạo diễn trẻ Nguyễn Thế Vinh thực sự làm người xem thất vọng khi trong phim dùng hoa đào giả một cách lộ liễu.
Với Hoa đào, mặc dù không nhất thiết cảnh nào cũng phải dùng tới đào thật. Nhưng kỹ xảo điện ảnh ở đâu, vai trò của đạo diễn, quay phim và người làm đạo cụ ở chỗ nào, khi để những cảnh đào giả lộ liễu lặp đi, lặp lại. Và như thế, ý đồ của đạo diễn muốn dùng tới hoa đào làm tâm điểm để khắc họa những va chạm trong cách nghĩ và lối sống của các thành viên một gia đình Việt truyền thống trong cơn lốc xoáy của cơ chế thị trường đã trở nên phản tác dụng. Nếu là một đạo diễn có tài, có bản lĩnh, kinh nghiệm thì đôi khi chỉ cần diễn xuất nội tâm của nhân vật; những góc máy độc đáo; ánh sáng, tiếng động, âm thanh…, người xem cũng đã có thể rưng rưng với cảm xúc về sắc thắm hoa đào. Như vậy có thể tránh đẩy người xem vào tâm lý cảm thấy bị coi thường, vì sự xem thường và cẩu thả trong nghề nghiệp của cả đạo diễn lẫn các thành phần làm phim liên quan.
Tuy nhiên không chỉ có những đạo diễn trẻ mới vào nghề mắc lỗi, mà đôi khi cả những nghệ sĩ tên tuổi cũng không tránh khỏi những “ rủi ro” không mong muốn trong phim, có thể liệt kê ở đây một vài ví dụ như lỗi diễn xuất của các diễn viên phimNhìn ra biển cả (đạo diễn Vũ Châu) với diễn xuất sân khấu và cách nhả thoại bị cường điệu hóa. Phim Áo lụa Hà Đông (đạo diễn Lưu Huỳnh) mắc lỗi về hóa trang. Phim Cánh đồng bất tận (đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình) mắc lỗi về chi tiết thiếu chân thực. Đặc biệt là quá nhiều những sai sót, sự không chính xác về đạo cụ, bối cảnh, phục trang trong phim đề tài chiến tranh Trung úy (đạo diễn Hà Sơn), làm bộ phim bị mất đi tính chân thực và thuyết phục.
Mặc dù cảm quan nghệ thuật khác nhau, nhưng khi bộ phim không làm rõ được mục tiêu đặt ra và đương nhiên cho rằng khán giả không để ý, tác giả không cho rằng việc dàn dựng cũng phải thuyết phục về những gì đang diễn ra trên phim hoặc chia sẻ góc nhìn của đạo diễn,  thì rõ ràng sự thất bại của phim là điều không khó hiểu, đó là chưa nói đến hiện nay có nhiều kịch bản rơi vào tình trạng tầm khái quát yếu, tầm tư tưởng chưa cao , thường chỉ có những cảnh thuần túy ghi lại đời sống xã hội một cách thật thà, còn có những kịch bản khi mới đọc đoạn đầu đã biết kết thúc.
          Người đạo diễn khi nhận kịch bản, cần phải có những ý kiến chủ quan của mình để xử lý kịch bản. Vẫn là ý tưởng đấy, câu chuyện đấy của biên kịch, đạo diễn phải đưa ra cách xử lý và kể lại câu chuyện đó bằng tư duy của người đạo diễn chứ không phải mang kịch bản đấy đi minh họa tất cả những gì mà biên kịch đã viết.
          Phim Chuyện của Pao đã ôm đồm nhiều chủ đề khi vừa muốn nói đến hành trình của cô gái trẻ khám phá đời sống tinh thần của những người than, sự vị tha trong xã hội, rồi bí mật đi theo suốt cuộc đời mỗi con người. Đạo diễn đã xử lý chưa tới khi sử dụng lời dẫn chuyện để dẫn người xem đi theo mạch phim nhưng lại cố giải thích bằng quá nhiều lời dẫn,  khiến mạch phim không nhất quán, lúc nhanh, lúc chậm. Sự xuất hiện của nhân vật Pao đôi khi thừa thãi , diễn biến tâm lý chưa phù hợp nên nhiều lúc không có tác dụng gì trong diễn tiến chung của truyện phim.
Phim Cánh đồng bất tận dù quy tụ một dàn diễn viên ngôi sao như: Tăng Thanh Hà, Đỗ Hải Yến, Ninh Dương Lan Ngọc hay Dustin Nguyễn, bên cạnh việc đóng góp vẻ đẹp rạng rỡ của họ trong bối cảnh thiên nhiên ở mỗi khuôn hình, họ cũng phần nào mang lại thành công cho phim ở mảng diễn xuất. Tuy nhiên về tổng thể , đạo diễn đã “kéo lê” bộ phim đi một cách mất định hướng khi để các tình tiết và cảm xúc bị rời rạc, chắp nối. Và càng đến cuối thì cảm giác “giả” xuất hiện với những cảnh bạo lực nhưng không có cảm giác dữ dội, cái ác, không thật và sự đau thương không chạm được tận cùng cảm xúc như nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã làm trong truyện, bên cạnh đó, đạo diễn đã để mắc khá nhiều lỗi về thoại, không toát lên được chất miền Tây mà lại đậm chất Bắc.
 Hạn chế trong quay phim
           Người quay phim chỉ là một mắt xích trong sản xuất các chương trình truyền hình. Nhưng với những đặc trưng riêng biệt của nghề, hầu như người quay phim phải đảm nhiệm hết các công việc: sắp xếp hiện trường, bố trí âm thanh, ánh sáng.
Không phải chỉ phim nào quay những cảnh nên thơ, nhiều màu sắc mới được gọi là đẹp. Cái đẹp có khi là những thứ xù xì, góc cạnh, hoang dã và rất tự nhiên, không cần phải uốn nắn chúng đi theo một khuôn mẫu nhất định. Bên cạnh yếu tố chất liệu của bối cảnh phim, điều rất quan trọng với người đạo diễn, quay phim là phải chọn được góc máy, cách xử lý ánh sáng và màu sắc đồng nhất và nêu bật được ý nghĩa, nội dung của câu chuyện…
          Người quay phim sau khi tìm hiểu về nội dung phim chọn cảnh quay, góc quay, ánh sáng, đối tượng sao cho phù hợp nhất với nội dung muốn thể hiện. Chính vì thế, tính sáng tạo và sự cảm nhận tinh tế của mỗi người quay phim là yếu tố quyết định đối với mỗi khuôn hình đẹp, ý nghĩa từng cảnh quay.  Quay phim đừng nghĩ đơn giản là chỉ việc bấm máy, chỉ nắn nót quay thật đẹp. Điều quan trọng hơn đó là những suy nghĩ và thái độ của người cầm máy đối với những cảnh quay ấy. Nếu không liên tục trau dồi kiến thức để hiểu kỹ, hiểu sâu, hiểu rộng các vấn đề của xã hội thì sẽ chỉ quay được bề nổi của sự việc mà thôi.
Nhà quay phim Lý Thái Dũng đã chia sẻ trên ktdt.com.vn ra ngày  27/2/2009 rằng “Đạo diễn là tác giả chính của bộ phim, vì vậy người quay phim sẽ cùng đạo diễn kể một câu chuyện bằng hình ảnh từ câu chuyện gốc (kịch bản). Đạo diễn là dịch giả chính, quay phim là người thứ hai. Người quay phim có nghĩa vụ phải tư vấn cho người đạo diễn về hình ảnh của các cảnh quay nên như thế nào, bởi cả đời người quay phim là một nhà sưu tầm hình ảnh, là một kho lưu trữ hình ảnh và anh sẽ nhận thấy rằng hình ảnh như thế nào thì hay, phù hợp với câu chuyện và nhân vật mà đạo diễn muốn kể. Đương nhiên khi người quay phim tư vấn, đạo diễn có thể từ chối rằng “Không, tôi không đồng ý” hoặc có quyền tiếp thu rằng “Đây là một ý kiến tuyệt vời”… Như vậy trong một bộ phim thì người quay phim giỏi là người chuyển tải tốt nhất câu chuyện mà đạo diễn muốn mang đến cho người xem, và vẫn giữ được (một cách kín đáo) “cái tôi” của nghề quay phim. Thật hạnh phúc khi có trong tay kịch bản, người đạo diễn đã nghĩ ngay đến mình”
Tuy nhiên thực tế hiện nay những quay phim thực sự tâm huyết và đam mê với nghề không nhiều, nhiều quay phim không xác định được vai trò sáng tạo về góc máy, màu sắc, đường nét trong phim. Họ thụ động làm theo sự chỉ đạo của đạo diễn. Dường như họ quên mất mình cũng là một nghệ sỹ mà chỉ làm công việc như một kỹ thuật viên.
Chính vì vậy, trừ một số phim điện ảnh  nghệ thuật đạt hiệu quả cao về tạo hình trong quay phim còn lại nhiều phim điện ảnh mang tính thương mại vấn đề tạo hình quay phim chưa được nhà làm phim quay phim đúng mức, chấp nhận những cảnh quay thường thường và tạo ra những sản phẩm mì ăn liền. Trong phim  Hoa đào, đạo diễn dùng đào giả, với lời giải thích,  thời gian đào nở quá ngắn, trong khi thời điểm quay phim không rơi vào mùa xuân và kéo dài trong nhiều tháng. Khi đào nở, đạo diễn cũng đã cho quay bổ sung và ghép vào phim nhưng… lại thấy đào thật không đẹp bằng đào giả nên bỏ. Vậy tại sao ở trường quay Hoành Điếm của Trung Quốc, người ta cũng dùng đào giả, hoa giả để quay mà vẫn thành công qua những góc máy độc đáo; ánh sáng, tiếng động, âm thanh…, người xem cũng đã có thể rưng rưng với cảm xúc về sắc thắm hoa đào. Vấn đề ở đây đạo diễn cũng như quay phim còn non tay trong việc tạo hình. Đây là một trong những hạn chế khiến cho phim Việt bị tụt lùi so với điện ảnh các nước trong khu vực cũng như trên thế giới.
(Còn tiếp)
Bùi Thái Dương
Đài truyền hình Việt Nam

Tạo hình điện ảnh là chất liệu cơ bản của Ngôn ngữ Điện ảnh (3)

Tạo hình điện ảnh là chất liệu cơ bản của Ngôn ngữ Điện ảnh (3)

VTVTC: Website daotao.vtv.vn đi vào hoạt động từ 12/4/2013. Điều làm chúng tôi rất vui là những thông tin phản hồi tích cực từ các đồng nghiệp trong cả nước. Hơn thế, nhiều đồng nghiệp còn sẵn sàng chia sẻ với daotao.vtv.vn những kiến thức, kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình làm nghề và học tập.
Xin trân trọng giới thiệu phần tiếp theo luận văn thạc sĩ nghệ thuật Điện ảnh của Thạc sĩ Bùi Thái Dương – Trưởng phòng Đạo diễn và quay phim – Ban Thể thao – Giải trí và Thông tin kinh tế- Đài truyền hình Việt Nam.
Đương nhiên, ngôn ngữ điện ảnh có sự liên hệ mật thiết với hội họa và các loại nghệ thuật tạo hình khác để tạo ra những thành tố cho tác phẩm, đó là bộ phim.
           Với 24hình/giây thời gian, có thể nói rằng, mỗi khoảnh khắc trong bộ phim là rất nhiều tác phẩm nghệ thuật tạo hình liên hệ với nhau. Mỗi hình phim giống như một tác phẩm hội họa mà ở đó dưới sự chỉ đạo của người đạo diễn, sự bài trí của người họa sỹ, cách đặt máy của người quay phim, điệu bộ diễn xuất của người diễn viên hoặc dù chỉ là một cảnh thiên nhiên tĩnh lặng, cũng đều như là một tác phẩm hội họa có bố cục hoàn chỉnh về màu sắc, có tiền cảnh, hậu cảnh, có chủ điểm ý tưởng mà những người làm phim muốn gửi đến người xem. Như vậy, dù mỗi khuôn hình được tách riêng hay trong tổng thể của phim điện ảnh, với sự tiếp thu thừa hưởng tinh hoa của các nghệ thuật khác và những yêu cầu bắt buộc tự thân, đã hình thành nên đặc trưng của bộ môn nghệ thuật điện ảnh, bao gồm các yếu tố cơ bản sau đây:
 Hình ảnh, âm thanh, tĩnh – động
Điện ảnh là môn nghệ thuật của hình ảnh, nhưng trong một bộ phim, âm thanh cũng đóng vai trò rất lớn. Hình ảnh và âm thanh kết hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn theo một tỷ lệ tương ứng, thích hợp tác động vào các giác quan để rồi từ đó tạo ra được những hiệu quả của tiếp nhận ở người xem. Hình ảnh có những ưu thế đặc biệt, đó là tính ghi thực trực tiếp, ra đời nhanh và gây ấn tượng sâu sắc. Với đặc trưng 24h/s, hình ảnh phản ánh con người, sự kiện, sự việc, hiện tượng trong trạng thái động. Nói hình ảnh sống động cũng chính là nói cái chuyển động thực của cuộc sống thành hình ảnh mang giá trị cao trên tác phẩm. Thông qua những hình ảnh đó đã giúp người xem nhận thức những hoạt động kế tiếp nhau, liên tục của sự kiện, hiện tượng. Đây chính là khoảnh khắc thẩm mĩ khác hẳn hàng ngàn, hàng vạn những giây phút ngẫu nhiên khác của đối tượng, hiện thực. Ngôn ngữ hình ảnh của điện ảnh làm cho người xem có cảm nhận mình đang sống giữa sự chuyển động của cuộc sống. Tận mắt thấy rõ những sự việc, hiện tượng xảy ra giúp người xem có cái nhìn chân thực nhất, giúp họ đưa ra những nhận định hay phán xét, có những cảm nhận riêng. Một bộ phim đưa người xem đến một thế giới vừa là hiện thực, lại vừa hoàn toàn khác với hiện thực, trong đó mọi cảm xúc, sự việc, hiện tượng đều được đẩy lên đến tận cùng. Khán giả bị tác động cảm xúc bởi những hình ảnh trong thế giới đó, và trong một bộ phim, thông thường sẽ có một hoặc một số hình ảnh có tác động mạnh mẽ nhất đến người xem. Chẳng hạn cảnh tàu chìm trong phim Titanic với hàng trăm người la hét hoảng loạn và sự chia ly đau đớn của cặp tình nhân Jack và Rose đã trở thành một trong những cảnh kinh điển của điện ảnh.
Tuy có tác động mạnh mẽ như vậy, song theo các nhà nghiên cứu của Viện Hàn lâm điện ảnh Mỹ thì hình ảnh chỉ tác động gián tiếp đến cảm giác của con người, còn âm thanh mới là yếu tố tác động trực tiếp đến các giác quan đó. Âm thanh trong một bộ phim gồm có ba phần là tiếng động, lời thoại và nhạc phim. Tiếng động phải chân thực, phù hợp với hành động, cảm xúc của nhân vật; lời thoại phải tinh tế, giàu ý nghĩa; trong khi đó âm nhạc phải có tác dụng hỗ trợ cho cảm xúc của người xem và đẩy cảm xúc đó lên cao trào. Tạo nên một bộ phim thành công về mặt âm thanh không phải là dễ, bởi còn phụ thuộc vào các yếu tố kĩ thuật lẫn vấn đề con người. Một bộ phim thành công về âm thanh cần sự kết hợp nhuần nhuyễn từ cả một ekip: giám đốc âm thanh, kỹ thuật viên âm thanh, nhạc sĩ chuyên viết nhạc phim, phát âm của diễn viên,… Có những bộ phim, âm thanh trong phim thành công đến nỗi tách hẳn ra khỏi bộ phim đó và có một đời sống độc lập. Những bài hát như If we hold on together (trong phim Lion King)My heart will go on (trong phim Titanic)Casablanca (trong phimCasablanca),… là những ca khúc đã trở thành kinh điển và có một đời sống riêng trong lòng khán giả.
 Đặc trưng thứ nhất của ngôn ngữ điện ảnh và cũng là đặc trưng chủ yếu là tính đại chúng.
Trong lịch sử hình thành và phát triển các bộ môn nghệ thuật, có lẽ không có nghệ thuật nào có tính phổ cập,  tính nhân dân rộng rãi như điện ảnh. Nó là tiền đề để người Mỹ tích lũy tư bản, xây dựng thương hiệu cho nền công nghiệp điện ảnhHollywood. Ở Liên Xô, trong thập niên 50 của thế kỷ trước, có năm đã đạt được số người xem phim 5, 7 tỷ lượt. Ngay ở Việt Nam, các bộ phim điện ảnh như Đến hẹn lại lên, Cánh đồng hoang, Bao giờ cho đến tháng Mười …cũng đã có đến hàng triệu lượt khán giả. Trước sức mạnh to lớn về khán giả của điện ảnh, đạo diễn không thể xem nhẹ tính quần chúng, phổ thông của nó. Nghĩa là ở mỗi bộ phim, ngôn ngữ điện ảnh cần phải dễ hiểu, giản dị.
          Đối với người đạo diễn, cần nắm bắt và hiểu rõ câu chuyện của mình. Bởi chúng ta cũng hiểu rằng, một bộ phim làm ra là để cho hàng triệu người thưởng thức, vì thế thông điệp mà nó mang đến cho người xem phải là những vấn đề của cuộc sống, dù lớn hay nhỏ, thì vấn đề đó cũng phải mang lại một tác động tích cực cho người xem, cho dù kết cục của bộ phim là bi tráng.  Bé Nga (phim Con chim vành khuyên) trước khi chết còn nhớ mở túi áo để thả choc him  bay ra hướng tới bầu trời tự do, một Thu Cúc (phim Thu Cúc đi kiện, Trung Quốc) bụng mang dạ chửa mà vẫn đi bán đến từng cân ớt khô cuối cùng để thưa kiện, mong nhận được lời xin lỗi tử tế… Những câu chuyện nhỏ ấy, những hành động đời thường ấy đều mang những thông điệp lớn với chiều sâu tư tưởng gây sức nặng ấn tượng trong cảm xúc của người xem mà ai cũng có thể dễ dàng hiểu, cảm thông và chia sẻ.
Đặc trưng thứ hai của ngôn ngữ điện ảnh là tính chặt chẽ, bố cục mạch lạc rõ ràng ( Tính tổng hợp).
Đạo diễn Trung Quốc Trương Nghệ Mưu đã ví việc tạo bố cục này như công việc của người nặn tượng. Nếu như trên bộ khung có những chỗ bị sai lệch về tỉ lệ, hoặc chằng buộc không vững chắc thì nhất định sau này, bức tượng sẽ có những chỗ khiếm khuyết và rất khó khắc phục, sẽ là một tác phẩm mất cân đối, dẫn đến phù nề ở những chi tiết lẽ ra rất cần được khắc họa trau chuốt và tinh tế.  Tương quan với điều đó, khi điện ảnh là tác phẩm mang trình chiếu phục vụ công chúng, nó cần tự thân kể nên câu chuyện của nó bằng hình ảnh trên phim một cách mạch lạc, rõ ràng, để người xem có thể hiểu được câu chuyện.
Đạo diễn Michael Uno trong bài giảng của mình với các sinh viên của trường điện ảnh U.S.C đã nói rằng: “ Đạo diễn phải thực sự chú tâm và cân nhắc kỹ lưỡng với câu chuyện mà anh ta đang kể, liệu khán giả có đoán được chuyện gì sắp xảy ra không? Nếu họ đoán được chuyện sắp xảy ra thì khán giả đã đi trước bộ phim, điều đó gây nên sự nhàm chán và phim của bạn không còn hấp dẫn họ nữa, đương nhiên họ sẽ không theo dõi tiếp. Vậy đạo diễn sẽ làm cách nào để hấp dẫn và gây tò mò với khán giả? Khi đó, bằng mọi thủ pháp và cách kể, sự đan xem chi tiết, nhiều đạo diễn đã thành công trong việc khiến khán giả hoang mang và không thể đoán biết được chuyện gì sắp xảy ra, khi ấy, tác giả đã đẩy khán giả ra phía sau bộ phim, dần dần khiến họ không hiểu chuyện gì đang diễn ra và bộ phim sẽ đánh mất đi sự theo dõi của khán giả, đơn giản vì họ không thể theo kịp câu chuyện. Vậy đạo diễn phải làm gì để có được người xem phiêu lưu và đồng cảm với nhân vật của mình? Đó chính là:  hãy để khán giả song hành với bộ phim.  Để khi họ vừa kịp hiểu chuyện đang diễn ra thì một bước ngoặt mới sẽ tới, một kịch tính mới xuất hiện. Làm được điều đó hẳn bạn sẽ được một phim hay và hấp dẫn người xem”.
Dẫu vẫn biết rằng một bộ phim được đón nhận ở công chúng có nhiều hay không, còn phụ thuộc vào yếu tố khác nhau, như môi trường sinh hoạt, văn hóa cộng đồng… Nhưng khi đạo diễn đảm bảo được tính logic chặt chẽ, rõ ràng thì sẽ luôn có được sự song hành của người xem với câu chuyện, bởi chắc chắn khán giả sẽ cảm thấy bực mình khi mất quá nhiều thời gian để xem một bộ phim rối rắm và càng lúc càng gây khó hiểu.
          Tính logic, chặt chẽ được biểu hiện ở chỗ mỗi tình huống, mỗi động tác phải  được chuẩn bị chu đáo, phải là kết quả tự nhiên và tất nhiên của các tình huống. Mọi cái nảy ra ngoài trật tự chặt chẽ và khoa học này đều bật khỏi cảm thụ của người xem. Bộ phim khi đã chiếu lên rồi phải không để cho một khán giả nào nghĩ lảng sang chuyện khác dù chỉ vài ba giây, những cái không hiểu được giống như những cái không trông thấy được mà phim vẫn được chiếu liên tục sẽ tạo ra những khoảng trống trông cảm xúc người xem. Một bộ phim có vài chỗ như thế thì những cố gắng của cả ekíp làm phim sẽ không thu lại được kết quả như mong muố. Tính chặt chẽ, ấn tượng và biểu cảm phù hợp với không gian và thời gian của hoàn cảnh
Hệ thống chi tiết giàu sức biểu cảm nghệ thuật của cả hình ảnh và âm thanh.

Cảnh trong phim Cánh đồng hoang của Đạo diễn Hồng Sến
Nếu như văn xuôi tác động vào người xem qua ngôn từ thì điện ảnh tác động vào người xem qua hình ảnh. Ví dụ trong bộ phim Thu Cúc đi kiện, để miêu tả phố huyện, Trương Nghệ Mưu cho cận cảnh một ki ốt bán báo. Ở đó người ta treo bức tranh phụ nữ nửa phần lõa thể bên cạnh chân dung của ông Mao Trạch Động. Đạo diễn không cần giải thích gì thêm nhưng người xem đã ngầm hiểu rằng đó là văn hóa phố huyện, nó đơn giản thô thiển và không biết sợ.
          Trong điện ảnh, đạo diễn điện ảnh phải tạo ra cái cho người ta xem. Nếu bộ phim nghèo nàn về chi tiết nghệ thuật và những chi tiết đấy không giàu sức biểu cảm thì dù bộ phim có dễ hiểu đến đâu cũng không làm người ta xúc động.

Cảnh phim Chiến hạm Potemkin (đạo diễn S. Eisenstein)
Đặc trưng thứ năm và là đặc trưng tất yếu của ngôn ngữ điện ảnh là montage hay còn gọi là dựng phim. Ở đây cần có tư duy của tất cả các thành phần chính sáng tạo nên bộ phim. Người xem phim có thể xem một toàn cảnh có đến hàng vạn người và cũng có thể nhìn thấy rõ một người, hơn thế còn thấy cả cái chớp mắt, mấp máy môi ở người đó. Tất cả những điều này thật sự chỉ có điện ảnh làm được trong một khung cảnh, thông qua quay phim với các cỡ cảnh: Toàn cảnh, trung cảnh và cận cảnh hay đặc tả. Theo tính chất của bản thân nó,  bộ phim được dựng lên do nối tiếp hàng loạt cảnh với nhau, tổ chức các hình ảnh sao cho câu chuyện có ý nghĩa. Bên cạnh đó việc dựng phim còn tạo ra các hiệu quả phụ, gây ngạc nhiên bằng việc ráp nối những hình ảnh này, và thông qua đó tạo cho tổng thể những hình ảnh mà ta sắp xếp có nhịp điệu, sức sống.
 Tạo hình điện ảnh là tổng hợp những đặc trưng của ngôn ngữ điện ảnh
          Khẳng định rằng, điện ảnh mang  đặc tính mạnh mẽ là sức biểu hiện của tạo hình. Có người cho rằng kịch câm là một trong những gốc rễ sâu xa tạo thành nghệ thuật điện ảnh. Mặc dù bây giờ phim đã có đối thoại thì ở nhiều hình thức, kịch câm vẫn ẩn dấu và có tác hiệu quả mạnh mẽ trong điện ảnh.
Trong phim Cánh đồng hoang, đạo diễn Hồng Sến và các đồng nghiệp của ông đã tạo ra những bức tranh câm mà ý tứ phát lộ ra nhiều thông điệp độc đáo (Nhân vật Ba Đô cho đứa con vào túi ni lông lặn xuống nước mỗi khi chiếc trực thăng Mỹ lượn đến nơi có cái chòi mà gia đình anh sống giữa đồng hoang). Chính nhờ sức mạnh của tạo hình mà nhiều đoạn phim câm đầy thuyết phục, không cần thoại mà vẫn gây ấn tượng và ám ánh người xem. Đây là một minh chứng điển hình trong số rất nhiều những chi tiết thuyết phục khác trong các tác phẩm điện ảnh thành công  để khẳng định rằng : tạo hình điện ảnh là chất liệu cơ bản của ngôn ngữ điện ảnh.
Tạo hình điện ảnh kết hợp với các yếu tố kỹ thuật khác tạo nên hình ảnh, chất liệu đầu tiên và cũng là một hiện thực phức tạp, bởi nguồn gốc của nó mang tính hai mặt sâu sắc: đó là sản phẩm của chiếc máy quay phim vốn có khả năng tái tạo một cách chính xác một phần hiện thực do con người chọn lựa và tổ chức theo một mục đích thẩm mỹ rõ rệt. Từ đó, hình ảnh bước vào mối tương quan biện chứng với người xem và chúng ta có thể đưa ra định nghĩa chung về điện ảnh như là“một nghệ thuật của những hình ảnh chuyển động”.
        Hình ảnh trong phim, trên thực tế là hiện thực trong sự chuyển động, mọi hình ảnh nếu đem tách ra khỏi bộ phim, ở mức độ nào đó đều trở thành vô nghĩa. Bởi vì nó chỉ còn là một đoạn trích lạnh lùng và bất động của một hành động liên tục vốn chỉ có ý nghĩa toàn vẹn của mình khi được phát triển trong thời gian. Việc truyền đạt sự chuyển động chính là ý nghĩa tồn tại của điện ảnh, là đặc tính chủ yếu, là biểu hiện cơ bản về bản chất.
          Tạo hình trong điện ảnh sẽ tạo ra hình ảnh chân thực, trong số đó, tất nhiên là sự chuyển động đã từng làm kinh ngạc những khán giả đầu tiên của điện ảnh khi thấy những chiếc lá rung rinh trong gió hoặc đoàn tàu xuất hiện nơi chân trời rồi tiến thẳng đến trước mặt họ và âm thanh cũng là một bộ phận quan trọng trong tạo hình điện ảnh, vì nó tạo cho điện ảnh một phương thứ hai, trong khi tái tạo môi trường bao quanh con người và vật chất mà chúng ta thường cảm thụ trong cuộc sống hiện thực. Khi hình ảnh đã là một “hiện thực nghệ thuật” thì nó đã truyền đạt một hiện thực được chọn lựa gọt giũa, xây dựng , tóm lại là được tái tạo theo thẩm mỹ chứ không phải chỉ là một bản sao giống như nó có. Sự câm lặng của điện ảnh trước kia, màu đen trắng, màu sắc nhân tạo hiện nay, vai trò hết sức quan trọng nhưng hoàn toàn không mang tính hiện thực chủ nghĩa của âm nhạc, ánh sáng, trang trí, bối cảnh, sự đa dạng trong việc chọn các cỡ cảnh và bố trí khuôn hình. Mỗi hình ảnh trong phim là bức tranh thu nhỏ theo quy luật của hội họa nhưng cần phải đề phòng sự bất động nhờ chuyển động của máy quay và chiều sâu của bố cục. Trong việc tạo khuôn hình những thủ pháp mạnh bạo nhất vẫn có thể chấp nhận miễn sao cảm giác trọn vẹn không mất đi.  Nếu như khuôn khổ của tranh trong hội họa thường cắt và hạn chế một phần của thế giới bên ngoài thì khuôn khổ của hình trên màn ảnh cần phải hư hư thực thực, kín đáo, khó cảm thấy và không bao giờ tách rời hình ảnh khỏi thế giới vật chất và những con người bao quanh nó.
          Như vậy có thể nói nhờ tạo hình điện ảnh làm chất liệu nên ngôn ngữ điện ảnh mới có sức biểu hiện mạnh mẽ với tính hiện thực ở mức độ cao để trở thành thuộc tính đặc trưng mà không một loại hình nghệ thuật nào có được. Chúng ta có thể kết luận như vậy thông qua một số hình tượng gây cảm xúc mạnh mẽ với khán giả như: con mắt bị cắt bỏ ra trong phim Tây Ban Nha Con chó Anđalua (đạo diễn L.Bunuel) hay bộ mặt đẫm máu của người phụ nữ bị thương trong phim NgaChiến hạm Potemkin (đạo diễn S. Eisenstein).

Bùi Thái Dương
Đài truyền hình Việt Nam

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | GreenGeeks Review