THE ART IN MY HEART !!!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Tức - Sự Kiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Tức - Sự Kiện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

Để có một phóng sự ngắn truyền hình tốt ( Bài cuối)

Để có một phóng sự ngắn truyền hình tốt ( Bài cuối)

VTVTC: Phóng sự ngắn là thể loại mũi nhọn được sử dụng phổ biến trong các chương trình Thời sự của các Đài truyền hình. Dù được sử dụng nhiều song nhiều phóng viên vẫn còn khá lúng túng vì thiếu những kiến thức, kỹ năng cần thiết để vận dụng thực hiện phóng sự ngắn. Xuất phát từ thực tiễn của ngành truyền hình, chúng tôi giới thiệu bài viết thứ tư, bài viết cuối trong loạt bài ” Để có một phóng sự ngắn truyền hình tốt” của nhà báo Văn Đồng – Trưởng Phòng Bạn nghe đài & xem truyền hình, Đài Phát thanh – Truyền hình Thái Nguyên.
Thao tác “ nâng tầm” phóng sự:
 Đây là thao tác quan trọng song ít được chia sẻ, lý do là không ít phóng viên giữ bí quyết nghề nghiệp riêng, ít muốn chia sẻ. Lý do nữa là không dễ để nâng tầm phóng sự nếu phóng viên không tạm rời xa chi tiết mà có cái nhìn rộng hơn, khái quát vấn đề mình phản ánh trong mối tương quan với lĩnh vực, với phạm vi địa lý ( tỉnh, cả nước), với tình hình thời sự trong nước và quốc tế dựa trên “ phông kiến thức” sẵn có của mình. Để sử dụng tốt thao tác này đòi hỏi lao động quá khứ của phóng viên, tức là lượng tri thức được tích lũy và sự nhạy bén nghề nghiệp.


Phóng viên Thanh Nga và Thành Trung Đài PT – TH Thái Nguyên ghi hình tại hiện trường
Việc phát hiện sợi dây liên hệ giữa cái cụ thể với cái tổng thể, cái của địa phương với tác dụng tuyên truyền toàn quốc, cái chi tiết trong lịch sử và sợi dây tác dụng trong hiện tại v.v. không phải tự nhiên có mà là kết quả của quá trình rèn luyện tư duy, sự nhạy bén trong tư duy. Giống như “ dao càng mài càng sắc”, phóng viên càng sử dụng tốt thao tác này sẽ trưởng thành, và trong nhiều trường hợp, tầm vóc nghề nghiệp của phóng viên hơn nhau cũng là ở chi tiết cuối cùng quan trọng này. Rất nhiều phóng viên trẻ nhanh nhạy, phát hiện nhiều đề tài hay nhưng thiếu kinh nghiệm trong thao tác này dẫn đến phóng sự chưa hấp dẫn, chưa hay, rất đáng tiếc.
 Nâng tầm ở đây không phải nhằm làm cho phóng sự quan trọng hóa, ngược lại đó là việc liên hệ giữa sự việc đơn lẻ mà phóng sự đề cập với bối cảnh, với tổng thể, là quan hệ giữa cái riêng và cái chung, qua đó, vấn đề phóng sự phản ánh không dừng lại ở một địa phương, lĩnh vực mà hướng đến trở thành mối quan tâm của số đông và đây cũng là thủ pháp làm cho phóng sự thực hiện đúng tính chất báo chí của mình. Thao tác này thường dùng ở phần kết của phóng sự ngắn.
Qua ví dụ sau đây sẽ sáng rõ hơn về thủ pháp mà trong chuyện “bếp núc” nghề nghiệp gọi là thao tác nâng tầm của phóng sự ngắn.
Phóng sự Chung cư liệu có an cư phản ánh sự xuống cấp của khu nhà dành cho công nhân.
Thao tác nâng tầm ở phần kết là : Trong 30 năm qua, những công nhân nơi này đã đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của một thị xã công nghiệp. Trong khi đó họ vẫn chưa thể an cư tại chính nơi ở của mình. Đây là dạng mâu thuẫn, là quan hệ giữa một khu nhà ở một địa phương với một vấn đề lớn hơn, chăm lo cho đời sống của chính những người công nhân đang đóng góp cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nói cách khác phóng sự đặt ra vấn đề: Những công nhân đóng góp cho sự phát triển của xã hội nhưng chính họ lại chưa nhận được sự quan tâm.
Phóng sự Làng nhặng và nhà máy chết phản ánh dự án nhà máy xử lý chất thải trị giá 34 tỷ đồng được đầu tư nhưng không hiệu quả, nhà máy đóng cửa, máy móc han gỉ, rác thải không được xử lý gây ô nhiễm.
Thao tác nâng tầm ở phần kết là: Trong khi Chính phủ đang chỉ đạo quản lý chặt chẽ chi tiêu công, khi nền kinh tế đang bị tác động của suy thoái kinh tế thế giới, từng đồng vốn chi cho đầu tư phát triển đều đáng quý thì dự án với hàng chục tỷ đồng lãng phí này thực sự là bài học đắt giá về công tác quản lý đầu tư. Cách kết này là liên hệ giữa cái cá biệt với tổng thể, giữa sự việc đơn lẻ mà phóng sự đề cập với tình hình thời sự đang diễn ra ở thời điểm phản ánh. Cách kết như vậy mang lại giá trị thông tin cao, tính định hướng báo chí của tác phẩm và cũng thể hiện rõ nhãn quan báo chí của nhà báo.
Qua những ví dụ trên phần nào đã giải thích về một trong những thủ pháp nghề nghiệp mà các phóng viên sử dụng khi kết thúc tác phẩm phóng sự ngắn truyền hình, nói cách khác là việc nâng tầm của phóng sự ngắn.
 Viết lời giới thiệu cho phóng sự ngắn:
 Giống như một bài báo viết, lời giới thiệu, đoạn sa – po bài viết có tác dụng quan trọng, nó giống như việc quảng bá, mời gọi sự chú ý vào tác phẩm. Lời giới thiệu hay lời dẫn của Biên tập viên, phát thanh viên trước khi phát một phóng sự ngắn rất quan trọng. Một phóng sự được làm cẩn thận nhưng lời dẫn sơ sài, kém hấp dẫn sẽ không phát huy giá trị tác phẩm. Lời giới thiệu có thể là chỉ giới thiệu đầu hoặc có cả giới thiệu mở đầu và lời dẫn khi kết thúc phóng sự.
 Lời dẫn cần phản ánh khái quát nhất bối cảnh tình hình và những chi tiết quan trọng mà phóng sự đề cập, dẫn dắt người xem đến với phóng sự sắp phát sóng. Lời dẫn không nên quá dài, chỉ nên ngắn gọn và đủ ý. Thông thường lời dẫn do phóng viên viết phóng sự dự thảo còn lời dẫn khi phát sóng trong chương trình thời sự do biên tập viên chỉnh lý, hoàn thiện trong tương quan chương trình Thời sự, với nhãn quan của biên tập viên sao cho hay nhất.
 Cũng cần tránh những lời dẫn chung chung, lối mòn. Tốt nhất, mỗi phóng sự nên cố gắng tìm cho mình một lời dẫn riêng, từ những cái riêng như thế sẽ làm cho tổng thể chương trình Thời sự đa dạng, phong phú, mặt khác làm cho phóng sự có bản sắc riêng, không nhạt nhòa trong cái chung mà có dấu ấn riêng có.
 Rà soát và tự duyệt lần cuối tác phẩm:
 Sau khi dựng hình phóng sự ngắn xong đây là thao tác bắt buộc và quan trọng. Trong khi viết, khi đọc, khi dựng rất có thể phóng viên sẽ mải sa vào chi tiết thú vị hoặc tâm đắc nào đó mà quên chú ý đến âm thanh, lời bình, sắp xếp hình ảnh chưa hợp lý. Đây là điều thường gặp. Vì thế, khi đã dựng xong phóng sự, phóng viên nên dành ít phút xem lại chỉnh thể tác phẩm với tư cách tác giả và tư cách khán giả. Khi xem lại cần chú ý lời bình, âm thanh, các kỹ sảo hình ảnh đã hợp lý chưa? Đánh chữ họ tên, số liệu, cắt phỏng vấn có sai sót không? Tiết tấu hình dựng phù hợp với đặc trưng loại phóng sự ngắn chưa? Ví dụ: Phóng sự phản ánh thiên tai, hỏa hoạn, sự cố mới xảy ra có tiết tấu hình nhìn chung là nhanh, hình ảnh 3 giây / hình, đối với phóng viên phương Tây đôi khi hình ảnh này ngắn hơn, dưới 3 giây / hình và các videoclips, phóng sự thường có tiết tấu khá nhanh, đối với phóng sự về đề tài nhân đạo, lịch sử, văn hóa lại cần tiết tấu hình chậm hơn, có thể 4 giây / hình.
 Việc rà soát lần cuối phóng sự ngắn cho phép phát hiện những sai sót và xử lý kịp thời. Đây là lúc cần sự tĩnh tâm, bình tĩnh và tỉnh táo nhất để vừa nghe, vừa xem, vừa cân nhắc về bố cục, hình ảnh, âm thanh. Do đó, đây là thời điểm làm việc tập trung cao độ trước khi hoàn tất tác phẩm phóng sự ngắn.
 Làm thế nào để rèn luyện kỹ năng làm phóng sự ngắn truyền hình:
 Bất cứ phóng viên nào cũng mong muốn mình trở thành phóng viên giỏi, thực hiện nhiều phóng sự hay, hấp dẫn. Đó là mong muốn hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, để thực hiện lại không hề đơn giản, đòi hỏi ý chí và sự kiên trì rèn luyện. Chỉ có số ít phóng viên có sự mẫn cảm đặc biệt, nhạy bén đặc biệt có thể tiến triển nhanh còn đa số đều phải lao động một cách nghiêm túc, trải nghiệm và tự rút kinh nghiệm mới có thành công.
 Sau đây có thể là một vài bí quyết tham khảo từ những phóng viên phương Tây và cả những phóng viên trong nước có nhiều kinh nghiệm với thể loại phóng sự ngắn truyền hình.
Thường xuyên xem TV
 Việc xem TV thường xuyên, đặc biệt là chương trình Thời sự trong nước và quốc tế là cách tự học nghiêm túc, dễ thực hiện, nhất là khi có đa dạng các kênh truyền hình như hiện nay. Tuy nhiên, sẽ là lãng phí thời gian nếu như bạn xem TV với tư cách một khán giả.
 Trái lại cần xem TV, xem các chương trình Thời sự với tư cách một đồng nghiệp, xem cách chọn đề tài, cách dẫn hiện trường, xem kết cấu phóng sự, lời bình phóng sự, cách khai thác chi tiết trong phóng sự, cách triển khai câu chuyện, cách phỏng vấn, cách kết thúc phóng sự… Tóm lại, là cần xem và tự phân tích, rút tỉa kinh nghiệm cho mình.

Phỏng vấn tại hiện trường của Phóng viên Ngọc Linh và Thành Trung

Tự chấm điểm:
           Nên có một cuốn sổ tay nhỏ, tự lập bảng chấm điểm cho các phóng sự của mình khi phát sóng trên TV. Có bốn thang điểm: Đề tài, hình ảnh, âm thanh, kết cấu phóng sự với mỗi loại 5 điểm, tổng điểm tối đa cả bốn tiêu chí là 20 điểm. Điều này khiến bạn giống như giám khảo khi chấm tác phẩm truyền hình. Tự chấm điểm cho mình, rồi rút kinh nghiệm và liên tục theo dõi diễn tiến của của bảng điểm theo thời gian. Sự nghiêm túc này có ý nghĩa luôn nhắc nhở bạn phải cố gắng và rèn luyện từng nội dung của bảng chấm điểm trong thực tế nghề nghiệp.
Tên Phóng sự
Đề tài  /
5 điểm
Hình ảnh/
 5 điểm
Âm thanh/
5 điểm
Kết cấu/
5 điểm
Tổng cộng
PS…





PS…





Bảng điểm theo dõi quá trình thực hiện các phóng sự ngắn trong tháng
Nghiên cứu tài liệu, trao đổi kinh nghiệm:
Với sự trợ giúp của internet bạn dễ dàng có thể truy cập vào phần hướng dẫn nghiệp vụ của các hãng tin lớn như Reuters, CNN, hay Trung tâm đào tạo của Đài Truyền hình Việt Nam VTV. Đây là nguồn tài liệu phong phú. Ngoài ra, tủ sách báo chí của Nhà xuất bản Thông tấn với hàng loạt Sách về báo chí phương Tây là nguồn tài liệu tin cậy. Bên cạnh đó, việc trao đổi kinh nghiệm, học hỏi từ các đồng nghiệp cũng là cách tốt để nâng cao kỹ năng làm phóng sự ngắn truyền hình.

Dựng và hoàn thiện phóng sự – công đoạn cuối để có phóng sự ngắn tốt
Để thực hiện một tác phẩm báo chí nói chung, một tác phẩm phóng sự ngắn truyền hình nói riêng với sự dồn nén thông tin cao trong phạm vi thời lượng có hạn, dưới ba phút đòi hỏi nhiều kỹ năng nghề nghiệp. Những chia sẻ nêu trên hy vọng phần nào giúp các phóng viên trẻ tham khảo và tháo gỡ những băn khoăn khi tác nghiệp đối với một thể loại tưởng như dễ vì quá phổ biến song lại cũng rất khó là phóng sự ngắn truyền hình./.

Văn Đồng
Đài PT – TH Thái Nguyên

Để có một phóng sự ngắn truyền hình tốt ( Bài 3)

Để có một phóng sự ngắn truyền hình tốt ( Bài 3)

VTVTC: Phóng sự ngắn là thể loại mũi nhọn được sử dụng phổ biến trong các chương trình Thời sự của các Đài truyền hình. Dù được sử dụng nhiều song nhiều phóng viên vẫn còn khá lúng túng vì thiếu những kiến thức, kỹ năng cần thiết để vận dụng thực hiện phóng sự ngắn. Xuất phát từ thực tiễn của ngành truyền hình, chúng tôi giới thiệu bài viết thứ ba ” Để có một phóng sự ngắn truyền hình tốt” của nhà báo Văn Đồng – Trưởng Phòng Bạn nghe đài & xem truyền hình, Đài Phát thanh – Truyền hình Thái Nguyên.
 Sắp xếp hình ảnh để kể câu chuyện:
Dựng hình ( montage ) là quá trình sáng tạo tác phẩm trong giai đoạn hậu kỳ và cũng là giai đoạn quan trọng, quyết định phóng sự tốt hay không. Việc sắp xếp hình ảnh để kể một câu chuyện  hay nói cách khác là nghệ thuật dựng hình muốn hiệu quả rõ ràng là không phải cứ đi quay về ngồi vào bàn dựng mới được chú ý. Trái lại, cần những hình ảnh gì để kể câu chuyện phóng sự phải được quan tâm từ khi phóng viên đi thực hiện phóng sự, thậm chí có sự chuẩn bị trước cả khi ra hiện trường thực hiện phóng sự. Khi đã có tư duy hình ảnh tốt, có ý thức về việc sử dụng hình ảnh và nắm vững nghệ thuật dựng hình thì việc dựng hình phóng sự ngắn ở khâu hậu kỳ là điều không quá phức tạp.
 Điều đáng quan tâm là hiện nay nhiều phóng viên biên tập, tức là phóng viên viết phóng sự ngắn, là những người trực tiếp dựng hình phóng sự ngắn lại ít nắm vững những kỹ xảo bàn dựng, những thủ pháp dựng hình cơ bản: dựng song hành, dựng ẩn dụ… dẫn đến từ khi viết lời bình chưa quan tâm đến khai thác tối đa khả năng dựng hình mang lại hiệu quả cho phóng sự. Điều này dẫn đến nhiều phóng sự viết chung chung, lãng phí ngay khi có thể sử dụng tốt những biện pháp nghiệp vụ làm cho phóng sự của mình tốt hơn.
 Về nguyên tắc, việc dựng hình tuân thủ bố cục cận cảnh, trung cảnh, toàn cảnh và ngược lại. Song có thực tế là hiện nay nếu tính tỷ lệ các cỡ cảnh trong một phóng sự thì tỷ lệ cảnh cận luôn là ít nhất. Lý do là nhiều phóng viên quay phim còn thiếu ý thức khai thác chi tiết, xem phóng sự có quá nhiều cảnh toàn, cảnh trung, thiếu cảnh cận và đặc tả, trong khi quên mất rằng, cái làm nên sức hấp dẫn của phóng sự ngắn là các chi tiết.
 Việc sắp xếp các hình ảnh cũng là một nghệ thuật khi chỉ với 6 hình ảnh ta đã có nhiều cách sắp xếp khác nhau mang lại những thông điệp khác nhau, hiệu quả khác nhau. Do đó, bản thân trình tự xuất hiện các hình ảnh trong phóng sự ngắn phải là quá trình có chủ đích một cách cẩn thận của phóng viên khi dựng hình phóng sự ngắn.
 
Phóng viên Quý Anh ghi hình tại thác bản Giốc
Có những nguyên tắc, những kỹ thuật dựng hình kỹ thuật viên dựng hình có thể giúp cho bạn song có một điều chắc chắn là nếu muốn dựng hình tốt cho phóng sự ngắn, phóng viên không nhất thiết phải là nhà chuyên gia về máy móc song cần biết những kỹ thuật cơ bản về dựng hình để áp dụng ngay từ khi đi làm phóng sự ngắn, chi phối trong quá trình thiết kế kết cấu phóng sự, viết lời bình cho phóng sự bởi đến khi ngồi vào bàn dựng thì coi như “ sự đã rồi”, khi ấy sẽ chỉ sáng tạo được với những gì có trong tay là quỹ hình ảnh đã quay được mà thôi.
 Âm thanh trong phóng sự ngắn:
Âm thanh trong phóng sự ngắn gồm tiếng động nền của hình ảnh, lời phỏng vấn, giọng đọc lời bình, những âm thanh khác dùng trong phóng sự. Có một thực tế khá phổ biến là khi phóng viên quá chú trọng đến hình ảnh hay ít để ý tiếng động nền của hình ảnh. Nếu biết sử dụng hợp lý âm thanh nền của hình ảnh sẽ mang lại hiệu quả sống động cho phóng sự. VD: tiếng sóng biển, tiếng sôi động chợ phiên, tiếng nước lũ, tiếng công trường… thậm chí là âm thanh của sự im lặng.
Những người quay phim vẫn được kể một câu chuyện về một nhà quay phim người Pháp khi quay phim ở Việt Nam xong đã phải cất công sang quay lại một đoạn âm thanh của sự im lặng. Đơn giản là không gian yên tĩnh ở nghĩa trang của Việt Nam với tiếng côn trùng kêu khác hẳn với âm thanh, tiếng côn trùng kêu trong sự yên tĩnh của nghĩa trang ở Pháp. Thế mới biết sự coi trọng âm thanh trong tác nghiệp nghiêm túc như thế nào. Đối với các kíp phóng viên nước ngoài tác nghiệp, luôn có người phụ trách micro thu âm thanh riêng. Bằng việc nghe được âm thanh nơi xảy ra sự kiện, phóng sự đưa người xem “ nhập cuộc”, họ được cảm thấy tiến gần sự kiện hơn.
Giọng đọc của phóng sự ngắn cũng là thực tế đáng bàn hiện nay khi phần lớn phóng sự ngắn do các phát thanh viên đọc. Rõ ràng là các phát thanh viên thể hiện rất tốt khi đọc tin tức song khi đọc phóng sự ngắn, đặc biệt là những phóng sự viết đúng quy cách phóng sự ngắn truyền hình thì thường gặp khó khăn do không hiểu hết ý đồ diễn tả của tác giả, vậy nên, lý tưởng nhất là chính phóng viên, biên tập viên tự đọc với điều kiện giọng đảm bảo tương đối, không nói ngọng hay bị tật về đọc.
  Nhân vật trong phóng sự ngắn:
Đối với phim tài liệu cần nhân vật là đương nhiên. Vậy đối với phóng sự ngắn có cần nhân vật không? Câu trả lời là có. Nhân vật chính là người dẫn dắt câu chuyện trong phóng sự. Một phóng sự hấp dẫn là khi có nhân vật, có người thật tham gia trong sự kiện. Hình ảnh nhân vật luôn xuất hiện đầu, giữa và cuối tác phẩm. Khi phát hiện ra một đề tài phóng sự người phóng viên cũng cần lựa chọn tìm nhân vật trong phóng sự của mình là ai? Đây sẽ là điểm quan trọng để khởi đầu và kết thúc phóng sự, để phóng viên kể câu chuyện mình định kể với khán giả. Việc thỉnh thoảng cho nhân vật xuất hiện trong các trường đoạn để tránh hiện tượng phóng sự “ quên” mất nhân vật hoặc khán giả “ quên” mất nhân vật.
Vậy tiêu chí nào để lựa chọn nhân vật cho một phóng sự ngắn? Trước hết nhân vật ấy phải là người biết hoặc nhân chứng sự việc, là người liên quan đến chi tiết  hay được nêu trong phóng sự. Việc có nhân vật sẽ mang lại cho phóng sự sợi dây xuyên suốt, kết nối chỉnh thể, tránh việc phóng sự trở thành những khối rời rạc được lắp ghép lại. Có nhân vật cũng làm cho phóng sự hấp dẫn hơn, chân thực hơn.
 
 Phóng viên Thu Thủy và quay phim Quý Anh – Đài PT _ TH Thái Nguyên tác nghiệp tại Cao Bằng
Thế nào là cái kết ấn tượng?
Sau khó khăn đầu tiên là tìm đường dẫn vào câu chuyện, tức là cách mở đầu phóng sự thì cách kết thúc phóng sự cũng khó khăn không kém. Khó khăn ở đây là kết thúc như thế nào để phóng sự đọng lại trong tâm trí khán giả?
Thông thường có cách kết thúc mở và đóng. Cách kết thúc mở vẫn thường được ưa dùng hơn. Kết thúc mở nghĩa là việc khép lại phóng sự không phải là chốt vấn đề đã xong mà mở ra hướng giải quyết, gợi ra sự suy ngẫm của người xem. Khi xem song một phóng sự mà sau đó người xem vẫn bâng khuâng nghĩ về nó ấy là khi phóng sự đó có chi tiết hay, thú vị hoặc xúc động, gây rung cảm cho người xem về thẩm mỹ và chắc chắn đó phải là phóng sự có cái kết tốt về mặt nghiệp vụ.
 Những nhà nghiên cứu về phóng sự truyền hình của phương Tây cho rằng phóng sự là nêu trung thực sự việc ( real), việc xem xét, đánh giá là tùy thuộc ở khán giả. Điều này đôi khi dẫn đến sự thiếu định hướng về cách thức truyền thông bởi cùng một phóng sự sẽ có nhiều quan điểm khác nhau. Do đó, cái kết phóng sự là nơi thể hiện dụng ý, định hướng của báo chí đối với khán giả.
 Vì vậy, để có cái kết ấn tượng thường dùng kết cấu vòng tròn để nhắc lại sự việc đã nêu ở phần mở đầu phóng sự song dưới dạng khác, nhấn mạnh vấn đề hơn. Nhấn mạnh có khi là một mệnh đề hoàn chỉnh, có khi là một vấn đề gợi mở. Những phóng viên sẽ không dành phần kết để nêu giải pháp, vì giải pháp là chuyện của các nhà quản lý, làm sao phóng viên nay đề cập đề tài này mai đề cập đề tài khác mà phóng sự nào cũng nêu giải pháp, cần thế nọ, cần thế kia? Rõ ràng phóng viên chỉ làm phận sự của mình là nêu vấn đề trước dư luận mà thôi. Những người làm phóng sự kinh nghiệm phương Tây cũng khuyên rằng không nên dùng cái kết dưới dạng câu hỏi như : phải chăng? Tại sao? Có lẽ? Điều này thể hiện sự mông lung của chính phóng viên. Những dạng câu như Thiết nghĩ cũng không được khuyên dùng.
 Sau đây là một vài dạng kết phóng sự ngắn gây hiệu quả mạnh:
- Phóng sự phản ánh về nạn khai thác quặng trái phép, phóng viên cầm hòn quặng trên tay và dẫn: Nếu như hòn quặng mà biết nói năng, chắc chắn nó sẽ chỉ rõ ai là thủ phạm làm thất thoát khoáng sản của nhà nước và nhân dân.
- Phóng sự Chung cư liệu có an cư với cái kết: Trong khi việc xử lý khu chung cư xuống cấp này chưa được giải quyết thì công việc thường ngày của những công nhân quản lý khu nhà vẫn là mang sào đi chọc những mảng bê tông sắp rơi trên trần nhà để tránh vữa rơi xuống dân cư phía dưới.
 - Phóng sự Những đứa trẻ vùng quặng với cái kết là bức tranh phản ánh nỗi nhọc nhằn của tuổi thơ vùng quặng.

Văn Đồng
Đài PH – TH Thái Nguyên

Để có một phóng sự ngắn truyền hình tốt ( Bài 2)

Để có một phóng sự ngắn truyền hình tốt ( Bài 2)

VTVTC: Phóng sự ngắn là thể loại mũi nhọn được sử dụng phổ biến trong các chương trình Thời sự của các Đài truyền hình. Dù được sử dụng nhiều song nhiều phóng viên vẫn còn khá lúng túng vì thiếu những kiến thức, kỹ năng cần thiết để vận dụng thực hiện phóng sự ngắn. Xuất phát từ thực tiễn của ngành truyền hình, chúng tôi giới thiệu bài viết thứ hai ” Để có một phóng sự ngắn truyền hình tốt” của nhà báo Văn Đồng – Trưởng Phòng Bạn nghe đài & xem truyền hình, Đài Phát thanh – Truyền hình Thái Nguyên.
Phỏng vấn trong phóng sự: Đây là điểm nhiều phóng viên trẻ còn khó khăn. Đôi khi người ta dễ nhầm lẫn việc phỏng vấn lấy thông tin và phỏng vấn để sử dụng trong phóng sự ngắn. Các sách báo chí đều hướng dẫn rằng phóng viên khi tác nghiệp nên sử dụng câu hỏi mở để khai thác thông tin. Điều này hoàn toàn đúng. Đối với truyền hình cũng vậy, khi làm phim tài liệu, khi phỏng vấn, tọa đàm tại trường quay cũng vậy. Song khi thực hiện phóng sự ngắn lại khác. Những phóng viên các kênh truyền hình tin tức lớn thường hỏi câu hỏi mở để khai thác thông tin làm phim hoặc ghi chép vào sổ tay. Điều gì sẽ xảy ra nếu cả phóng sự chỉ có 1’30’’ mà cần ba phỏng vấn và ít nhất một lời dẫn hiện trường trong khi người trả lời phỏng vấn nói dài? Rõ ràng là cần hỏi để người trả lời đi thẳng vào vấn đề chính.
             Điều quan trọng cũng được nhiều nhà báo phương Tây khuyên dùng là khi phỏng vấn trong quá trình thực hiện phóng sự ngắn hãy cố gắng phỏng vấn quan điểm của người được hỏi trước vấn đề mà phóng sự đề cập. Như ví dụ trong phóng sự về khu dân cư xuống cấp nêu trên, phóng viên sẽ thay vì hỏi người dân thấy khu dân cư của mình xuống cấp thế nào sẽ hỏi người dân anh thấy chất lượng cuộc sống ở đây tốt hay không? Hỏi như vậy phóng viên sẽ lấy được thông tin mà khán giả quan tâm là thái độ của người liên quan đối với vấn đề phóng sự đang đề cập và nhận được một câu trả lời ngắn, dễ cắt gọt khi dựng hình, tránh được câu trả lời dài.


Phóng viên Thanh Bình Đài Phát thanh – Truyền hình Thái nguyên dẫn tại hiện trường
                Một điều quan trọng được lưu ý là lời phỏng vấn của nhân vật càng ngắn càng tốt. Một ví dụ điển hình, khi có một vụ nổ bom ở Trung Đông, phóng viên hỏi một người dân, anh ta giơ hai tay lên trời và nói: Khủng khiếp quá! Ý kiến trích dẫn chỉ ngắn như vậy nhưng lại rất tuyệt vời khi chỉ ba chữ mà đã phản ánh rõ quan điểm của nhân vật trước vấn đề mà phóng sự đang phản ánh. Đây vẫn là ví dụ kinh điển về việc thu được lời trả lời phỏng vấn ngắn nhất và hay nhất trong phóng sự ngắn thời sự.
              Khi dựng hình, điều tối kỵ là không được cắt gọt ý kiến phỏng vấn, điều này sẽ mang lại cảm giác về sự thiếu chân thực. Việc dùng chớp trắng khi cắt ghép ý kiến phỏng vấn lại càng không thể bởi không có lý do gì lại có hiện tượng chụp ảnh khi phỏng vấn. Đây cũng là những điều nhiều phóng sự ngắn đang gặp phải hiện nay. Trong trường hợp hãn hữu, nếu ghép ý kiến thì cánh tốt nhất là hãy trám hình ảnh sự việc phóng sự đang phản ánh, nhằm che đậy việc ghép ý kiến.
           Nghĩ cách đặt câu hỏi đôi khi còn khó hơn là tìm câu trả lời. Câu hỏi thế nào sẽ có câu trả lời tương xứng, nói cách khác, khi xem một phóng sự, những người có kinh nghiệm chỉ cần nghe ý kiến phỏng vấn có thể đoán được phóng viên đã hỏi câu hỏi như thế nào? Đôi khi, đối với những đề tài khó,  đối với phỏng vấn những đối tượng khó bộc lộ quan điểm, cố gắng che giấu chính kiến của mình trước vấn đề phóng viên nêu thì dạng câu hỏi khiêu khích cũng được khuyên dùng.
              Tương tự, như ví dụ trên, khu dân cư xuống cấp do lỗi của chủ đầu tư xây nhà kém chất lượng, khi phóng viên phỏng vấn, chủ đầu tư cố tình lảng tránh trách nhiệm, một câu hỏi thông minh sẽ là: Người dân cho rằng doanh nghiệp đang lẩn tránh trách nhiệm về chất lượng công trình, ông nghĩ sao về ý kiến này? Đối với dạng câu hỏi khiêu khích thường người được phỏng vấn sẽ bị cảm xúc chi phối mạnh tới lý trí, dễ xúc động và thể hiện cái tôi, cái suy nghĩ thật của mình vốn đang bị lý trí cố gắng che đậy, từ đó phóng viên dễ đi tìm tới cái chân thực đang bị che lấp. Và để dùng tốt dạng câu hỏi này cũng đòi hỏi bản lĩnh của phóng viên.
              Bản thân việc sử dụng các phỏng vấn trong phóng sự ngắn, trình tự xuất hiện các nhân vật, các ý kiến cũng thể hiện quan điểm của chính tác giả khi thực hiện phóng sự. Trong tác nghiệp, thông thường theo quy luật có ba phỏng vấn được sử dụng trong phóng sự ngắn. Theo quy luật của trí nhớ, phỏng vấn thứ ba sẽ để lại dấu ấn sâu đậm nhất đối với người xem, do đó ý kiến người phỏng vấn cuối cùng bao giờ cũng có giá trị quan trọng nhất trong phóng sự. Do đó, đây là ý kiến phản ánh rõ nhất dụng ý của tác giả.

Phóng viên Văn Đồng và quay phim Triệu Thuần phỏng vấn tại Lũng Cú – Hà giang
            Tương tự, trong ba ý kiến phỏng vấn của phóng sự về khu dân cư xuống cấp, người thứ nhất nói sống ở đây rất khổ, người thứ hai nói nguyên nhân do công trình kém chất lượng, người thứ ba nói Doanh nghiệp xây dựng không phải trốn tránh trách nhiệm trước sự việc mà cần có đánh giá toàn diện để có giải pháp. Trong trường hợp này ý kiến thứ ba có vai trò quan trọng nhất vì nó sẽ đọng lại trong trí nhớ khán giả nhiều hơn cả. Nếu theo trình tự phỏng vấn trên ta sẽ có phóng sự: An cư nhưng vẫn bất an phản ánh sự việc chậm được giải quyết. Ngược lại, nếu sắp xếp theo hướng đổi phỏng vấn thứ nhất thay vị trí của phỏng vấn thứ ba, khi người dân phản ánh sống ở khu dân cư này rất khổ ở cuối phóng sự ta sẽ có phóng sự: Bất an ở khu chung cư phản ánh nỗi khổ của cư dân khu dân cư xuống cấp, chưa có sự quan tâm vào cuộc của cơ quan nào. Như vậy, có thể thấy việc sắp xếp trình tự xuất hiện các ý kiến phỏng vấn là thao tác có chủ đích của người thực hiện phóng sự, nói cách khác, đây là bàn tay nghề nghiệp của phóng viên ẩn phía sau phóng sự ngắn.
  Kết cấu phóng sự ngắn dạng vòng tròn:
Có nhiều dạng kết cấu để lựa chọn khi thực hiện một phóng sự ngắn truyền hình. Tuy nhiên, dạng kết cấu vòng tròn là loại được nhiều phóng viên truyền hình hay dùng bởi tính hiệu quả của nó. Thế nhưng, để nắm vững và sử dụng thủ pháp này khi kết cấu phóng sự ngắn lại thực sự đòi hỏi tay nghề cao của phóng viên, bởi nếu không thuần thục, sẽ phản tác dụng, làm giảm hiệu quả của phóng sự ngắn.
 Tương tự như ví dụ đã nêu, nếu phóng sự phản ánh sự xuống cấp của khu dân cư với hình ảnh mở đầu gây xúc động là cảnh một gia đình đang ăn cơm phía trên đầu họ là trần nhà nứt toác thì cảnh cuối của phóng sự phóng viên sẽ cố ý đưa người xem trở lại với hình ảnh đầu tiên, chi tiết đầu tiên này kèm theo câu kết mang tính hàm xúc cao như: Trong khi vấn đề chưa được giải quyết thì những người trong gia đình ông A, bà B vẫn hàng ngày sống trong sự thấp thỏm, ăn không ngon, ngủ không yên bởi ngôi nhà xuống cấp. Hay, Những khúc mắc trong quá trình lập dự án tái định cư là chuyện những  nhà quản lý đang phải bàn, còn những giây phút sum họp bình yên nhất của gia đình ông A, bà B vẫn
đang chênh vênh trước hiểm nguy đổ nhà bất cứ lúc nào!
Dạng kết cấu vòng tròn thực ra là việc láy lại trong tâm trí người xem về hình ảnh, chi tiết đã được chọn lọc kỹ, đề cập từ đầu phóng sự. Tác động láy như vậy khiến người xem nhớ lại vấn đề phóng sự đã phản ánh, mặt khác, nhấn mạnh có chủ ý của tác giả muốn gửi đến người xem một thông điệp sâu sắc qua phóng sự ngắn. Tuy nhiên, việc sắp đặt kết cấu vòng tròn cần có sự chọn lọc chi tiết đắt, có lời bình hợp lý. Cùng hình ảnh, hoặc cùng chi tiết giữa hình ảnh đầu phóng sự và cuối phóng sự song dứt khoát lời bình, chi tiết ở cuối phóng sự phải thể hiện sự khác biệt, phải mang “ sức nặng” của phóng sự, tránh chung chung, giảm hiệu quả của thủ pháp này khi sử dụng.
   Ngừng, nghỉ trong các trường đoạn ( Pause ):
              Thông thường người xem truyền hình sẽ tập trung cao độ ở lời dẫn của biên tập viên khi xem phần giới thiệu phóng sự và phần đầu phóng sự. Dần dần sự chú ý sẽ giảm dần, cộng với sự “ mệt mỏi ” của sự tập trung. Để duy trì sự chú ý của người xem rõ ràng là cần có những khoảng trống trong phóng sự để nghỉ thay vì người xem vừa phải xem, vừa phải nghe lời bình liên tục. Trong phóng sự ngắn nên có những trường đoạn “ nghỉ ”, tức là không có lời bình, khi ấy sẽ là những chi tiết đắt nhất, những hình ảnh xúc động và âm thanh phù hợp được nâng tiếng nền.
                Trong phóng sự ví dụ trên về khu dân cư xuống cấp có thể có những phân đoạn “ nghỉ ” khi người dân chọc những mảng vữa nứt trên trần đang nứt cho rơi xuống để tránh rơi vào người phía dưới, tăng âm thanh nền những khối vữa rơi và không có lời bình sẽ mang lại hiệu quả tác động mạnh về sự xuống cấp của khu dân cư đến người xem hơn là phóng viên ra sức mô tả sự xuống cấp bằng lời bình khi bản thân hình ảnh, âm thanh đã có sức mô tả quá tốt. Hoặc trôi hình kèm âm thanh nhân viên Ban quản lý khu nhà cầm loa đi  thông báo những vị trí nhà nguy hiểm cần tránh xa, trong
trường hợp này đoạn ngừng nghỉ này có hiệu quả cao trong phóng sự mà không cần thiết có bất cứ lời bình nào.
 Khai thác chi tiết để có một phóng sự hấp dẫn:
Trong phóng sự ngắn thời sự việc khai thác chi tiết có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Một phóng sự hay được làm nên bởi các chi tiết đắt, người xem cũng sẽ không thể nhớ hết cả phóng sự mà chỉ nhớ một vài chi tiết trong phóng sự, như vậy đã là phóng sự thành công. Thông thường trong một phóng sự có một vài chi tiết người phóng viên lựa chọn, sắp đặt theo thứ tự kịch tính tăng dần của các chi tiết. Chi tiết hay nhất, mâu thuẫn lớn nhất thường được sắp đặt ở phía sau. Cũng có trường hợp ngược lại, dạng viết tin theo hình tháp ngược, chi tiết hấp dẫn nhất được đề cập ngay từ đầu phóng sự ngắn. Song thông thường để tăng tính hấp dẫn của phóng sự thường các chi tiết sẽ xuất hiện từ hay ít, hay vừa đến hay, ấn tượng mạnh để thu hút sự chú ý của người xem. Sẽ khó thu hút người xem khi xem chi tiết hay nhất rồi đến chi tiết ít hay hơn trong phóng sự 3’, sẽ làm giảm hiệu quả của phóng sự.
 Nếu thực hiện một phóng sự dạng ít hấp dẫn nhất: Công tác chuẩn bị sản xuất vụ Xuân ở một địa phương, sẽ không thành công khi thiếu chi tiết, sẽ chỉ là số liệu chung chung, hình sản xuất chung chung. Nếu quan tâm đến chi tiết, người phóng viên sẽ phải đầu tư khai thác xem năm nay diện tích lúa lai đưa vào cấy tăng hay giảm, vì sao, tìm đến hộ gia đình năm trước chưa cấy lúa lai, năm nay bắt đầu cấy lúa lai và phỏng vấn lý do, quan tâm xem sản xuất vụ Xuân ở địa phương này có gì mới, khác với các địa phương khác. Chính chi tiết khác biệt, chi tiết về cái mới ấy làm nên sức sống của phóng sự.
 Tương tự, trong phóng sự Chung cư liệu có an cư phản ánh về khu chung cư xuống cấp ở một địa phương, nhiều chi tiết được sử dụng một cách có chủ đích. Chi tiết người dân mang theo cuộn giấy vệ sinh đi xe máy đi vệ sinh trở thành chi tiết đáng nhớ nhất của cả phóng sự khi khu chung cư xuống cấp, các nhà vệ sinh công cộng đều hư hỏng. Phóng sự về Thực trạng chất lượng các công trình thủy điện nhỏ là những chi tiết hàng loạt vụ vỡ đập, thiệt hại. Hệ thống bảng biểu thống kê và những hình ảnh tư liệu có sức mạnh rõ rệt trong phóng sự.
 Khi thực hiện một phóng sự về tình trạng hình thành điểm trông giữ xe trái phép ở trước cửa chợ Đông Kinh – Lạng Sơn, điều nhiều phóng viên quan tâm sẽ là bán được bao nhiêu vé giữ xe, quay hình ảnh chung chung bãi đỗ xe. Song nếu biết khai thác chi tiết, nếu biết quan sát thì hình ảnh bộ ấm chén và cái phích nước của 2 người trông xe là chi tiết đáng quan tâm khi làm phóng sự truyền hình. Chi tiết này nói lên rằng điểm trông giữ xe ở đây đang ngang nhiên tồn tại, mỗi ngày những nhân viên trông xe uống hết 2 phích nước pha trà ngay giữa đường cái trước cổng chợ. Bản thân chi tiết sẽ có hiệu quả cao trong phóng sự. Vì thế, muốn có những chi tiết tốt cho phóng sự của mình, phóng viên khi đi tác nghiệp ở cơ sở cần đặc biệt rèn luyện kỹ năng quan sát.
 Cũng liên quan đến việc khai thác chi tiết, trình tự sắp xếp cao trào, kịch tính của phóng sự cũng cần được chú ý theo xu hướng từ thấp đến cao.
  Lời bình trong phóng sự ngắn:
Nếu như tác phẩm phóng sự ngắn truyền hình là chỉnh thể hợp thành từ các yếu tố lời bình, hình ảnh, phỏng vấn, dẫn hiện trường… thì lời bình là một trong những yếu tố cấu thành. Câu hỏi đặt ra là liệu lời bình trong một phóng sự ngắn truyền hình khác gì với lời bình trong một phóng sự trên báo viết. Câu trả lời là khác rất nhiều, khác trước hết ở đặc trưng loại hình báo chí, thậm chí, ngay trong cùng một loại hình báo chí thì giữa tin truyền hình, phóng sự “ dài ”, phim tài liệu truyền hình lời bình cũng có sự khác biệt với lời bình trong phóng sự ngắn.
Trong phóng sự ngắn, lời bình là yếu tố cấu thành. Cả phóng sự là chuỗi các hình ảnh, âm thanh, phỏng vấn, lời bình kể về một câu chuyện trong cuộc sống thì lời bình có vai trò bổ sung cho hình ảnh, giải thích hình ảnh.
  Lời bình là một bài văn không hoàn chỉnh, có những lỗ hổng, được lấp đầy bằng hình ảnh và âm thanh. Có ý kiến cho rằng, nếu chỉ đọc thuần túy lời bình sẽ là một văn bản có nhiều trục trặc, thậm chí khó hiểu. Đơn giản vì nó chỉ là một trong những yếu tố cấu thành phóng sự ngắn mà thôi. Muốn hiểu trọn vẹn cần phải xem hình ảnh và nghe âm thanh. Khi làm được điều này thì mới đích thực trở thành một phóng sự ngắn truyền hình chuẩn mực, điều mà không dễ cũng như không phải phóng viên nào cũng làm được. Muốn làm được đòi hỏi phải có tư duy hình ảnh tốt.
Vì vậy, thông thường sẽ là dựng phóng sự hình ảnh xong mới viết lời bình. Tuy nhiên, khi tác ngiệp với tốc độ ngày càng nhanh chóng, đòi hỏi người phóng viên biên tập cần có tư duy hình ảnh tốt. Thậm chí ngay khi đi quay phim, phóng viên biên tập cần phối hợp tốt với quay phim, yêu cầu những cụm cảnh cơ bản, thậm chí nhìn động tác máy của quay phim phóng viên biên tập cũng có thể nắm rõ quỹ hình ảnh khoảng 70 – 80 %, trên cơ sở đó có thể “ liệu cơm gắp mắm”, viết lời bình tương ứng với quỹ hình ảnh có trong tay, tránh tình trạng khi viết lời bình thì “ hoành tráng”, đến khi dựng hình thì lúng túng vì quỹ hình ảnh hạn hẹp.
 Để có lời bình tốt, bên cạnh tư duy hình ảnh tốt, lời bình cần trong sáng, dễ hiểu, giản dị, tùy từng vấn đề mà có cách viết lời bình phù hợp, sử dụng nhiều kỹ năng khi viết lời bình: hài hước, châm biếm hay nghiêm túc, so sánh, liên tưởng, gợi mở…Có những phóng viên sử dụng thành thục cách viết lời bình câu ngắn, nhẹ nhàng nhưng dí dỏm, làm cho khán giả cười châm biếm trước sự việc mang lại hiệu quả cao cho phóng sự. Và đây thực sự là những phóng viên rất vững về tay nghề, khác với những phóng viên trẻ khi làm phóng sự thường dùng những câu từ, văn phong tỏ ra quan trọng, to tát thậm chí là gay gắt.
Nếu quá chú trọng đến lời bình sẽ dẫn đến quá trau chuốt lời bình. Đọc văn bản trơn tru từ đầu tới cuối dẫn tới dạng phát thanh trám hình. Nếu không chú trọng lời bình mà quá coi trọng hình ảnh sẽ dẫn tới đôi lúc khó hiểu, thiếu sự dẫn dắt, thể hiện rõ ý tưởng của phóng sự. Điều hợp lý nhất là sự kết hợp hữu cơ giữa lời bình và hình ảnh trong một phóng sự ngắn. Hữu cơ có nghĩa rằng không thể hiểu cái này mà không xem cái kia, không thể hiểu lời bình trọn vẹn mà không xem hình ảnh, ngược lại không thể hiểu đầy đủ hình ảnh mà không nghe lời bình. Có những trường hợp phóng sự hay phim tài liệu không lời bình song đây là số ít. Muốn làm như vậy đòi hỏi tay nghề cao và gửi đến khán giả thông điệp rõ ràng nhất.
 Lời bình trong phóng sự ngắn nên dùng câu dạng chủ động và câu ngắn. Có lời bình tốt chưa phải đã hết, còn cần giọng đọc tốt, thể hiện tốt ý tưởng của lời bình: gay gắt, nhẹ nhàng, châm biếm…
 Một điểm chung dễ nhận thấy là hiện nay có nhiều phóng sự ngắn truyền hình đang trong tình trạng đầy ắp lời bình, điều này chứng tỏ phóng viên chưa đầu tư công phu cho phóng sự hoặc hạn chế về tư duy hình ảnh. Khán giả truyền hình chắc chắn sẽ vẫn còn ấn tượng bởi phong cách làm phóng sự ngắn truyền hình của nhà báo Văn Thành ( VTV) bởi lối tư duy hình ảnh đầy sáng tạo và rất riêng có của anh, và khi có câu chuyện hình ảnh tốt, lời bình cũng rất ngắn gọn và sâu sắc. Để có lời bình phù hợp, điều quan trọng là cần nắm chắc quỹ hình ảnh mình có hoặc xem lại kỹ hình ảnh trước khi viết.
(Còn tiếp)
Văn Đồng
Đài PT – TH Thái Nguyên

Để có một phóng sự ngắn truyền hình tốt (Bài 1)

Để có một phóng sự ngắn truyền hình tốt (Bài 1)

Phóng sự ngắn là thể loại mũi nhọn được sử dụng phổ biến trong các chương trình Thời sự của các Đài truyền hình. Dù được sử dụng nhiều song nhiều phóng viên vẫn còn khá lúng túng vì thiếu những kiến thức, kỹ năng cần thiết để vận dụng thực hiện phóng sự ngắn. Xuất phát từ thực tiễn của ngành truyền hình, chúng tôi giới thiệu loạt bài viết Để có một phóng sự ngắn truyền hình tốt của nhà báo Văn Đồng – Trưởng Phòng Bạn nghe đài & xem truyền hình, Đài Phát thanh – Truyền hình Thái Nguyên.
















Nếu như trong hệ thống sách thông tấn báo chí , sách nghiên cứu ở Việt Nam, tài liệu về các thể loại báo viết khá dồi dào thì đối với truyền hình nói chung, đặc biệt là thể loại phóng sự ngắn truyền hình còn khá khiêm tốn. Điều này xuất phát từ nguyên nhân, Truyền hình đã phát triển ở Phương Tây nhiều năm nhưng ở Việt Nam sự xuất hiện của Truyền hình chưa lâu, lý luận về loại hình báo chí này chưa phát triển.

Mặt khác, phóng sự ngắn truyền hình dù được sử dụng nhiều song chưa được nghiên cứu nhiều, trong khi đó ngay cả tên gọi “ phóng sự ngắn” vẫn còn là vấn đề tranh luận bởi trên thế giới không có khái niệm phóng sự ngắn, có News, News story, hoặc News pakage. Cụm từ phóng sự ngắn được sử dụng tại Việt Nam theo cách phân biệt với phóng sự chuyên đề. Do đó, nhiều phóng viên có kinh nghiệm sử dụng các tài liệu nước ngoài là nguồn tài liệu tham khảo nghiệp vụ cơ bản khi nghiên cứu các kỹ năng thực hiện phóng sự ngắn truyền hình, trong đó có các tài liệu từ Quỹ Reuters xuất bản của nhiều tác giả, trong đó có Neil Everton.

Bài viết này sẽ không đi sâu vào những vấn đề mang tính “ học thuật”, bởi đó là những gì đã được viết trong sách. Mặt khác, giữa học thuật và thực tế, nhất là lĩnh vực đặc biệt sôi động như báo chí thì khoảng cách đó dài hay ngắn lại phụ thuộc nhiều vào năng lực, sự vận dụng của mỗi phóng viên.

Vì thế, xin được đề cập một vài vấn đề thực tế mà nhiều phóng viên đang băn khoăn hiện nay.

Về đề tài của phóng sự ngắn truyền hình:


Mâu thuẫn- hạt nhân của một đề tài tốt:
            Phóng sự ngắn truyền hình trước hết phản ánh một mâu thuẫn trong thực tế. Mâu thuẫn ấy chính là tính “ có vấn đề ” của phóng sự. Vì thế, mâu thuẫn chính là yếu tố đầu tiên cần có của một phóng sự, đó là đề tài mà phóng sự sẽ phản ánh, sẽ giới thiệu đến khán giả.

Những phóng sự ngắn truyền hình tốt thường là những phóng sự phản ánh về một mâu thuẫn nào đó. Ví dụ: Nước sạch hay sạch nước là phóng sự phản ánh về mâu thuẫn giữa một bên là sự đầu tư nhiều tiền của, sự đúng đắn của chính sách đối với đầu tư công trình nước sạch cho miền núi và một bên là hiện trạng quản lý kém hiệu quả, sự lãng phí. Phóng sự Bản siêu đẻ phản ánh về một hiện tượng sinh đẻ nhiều ở một bản dân tộc Mông ở vùng cao trong khi cả nước đã qua hàng chục năm thực hiện chính sách sinh đẻ có kế hoạch. Phóng sự Những đứa trẻ vùng quặng phản ánh việc trẻ em lao động nặng nhọc mưu sinh tận thu quặng sắt, bỏ lại sau lưng việc học hành và cả tuổi thơ hồn nhiên vốn có. Phóng sự Làng nhặng và nhà máy chết phản ánh mâu thuẫn khi cả nước thực hiện thắt chặt chi tiêu công, chống lãng phí ở thời điểm năm 2013 thì lại có dự án về xử lý chất thải trị giá hàng chục tỉ đồng không hiệu quả, nhà máy nằm lim lìm, gây lãng phí lớn. Phóng sự Tuyên truyền về chủ quyền biển đảo trong Sách giáo khoa – mặt trận còn bỏ ngỏ phản ánh về mâu thuẫn giữa vấn đề chủ quyền biển đảo là vấn đề “ nóng” được dư luận quan tâm thì trong sách giáo khoa dành cho thế hệ tương lai của nước nhà những bài giảng về biển đảo còn quá ít ỏi. Tính mâu thuẫn là yếu tố đầu tiên để có một đề tài tốt, một phóng sự tốt. Vì thế, khi bạn chuẩn bị bắt tay vào thực hiện một phóng sự ngắn truyền hình, điều đầu tiên cần xem xét là đề tài, là tính mâu thuẫn của vấn đề. Mặt khác, bên cạnh tính mâu thuẫn, tính lạ của đề tài cũng tạo nên sức hút của phóng sự. Phóng sựLàm giàu ở Trường Sa là một dạng phóng sự có đề tài “lạ” như vậy.

Đề tài tốt, bắt nhịp hơi thở cuộc sống và phù hợp với khả năng tổ chức hình ảnh của truyền hình là khởi đầu tốt đẹp để thực hiện phóng sự ngắn truyền hình.
Tuy nhiên, cũng có một thực tế là có nhiều đề tài rất tốt song lại khó thể hiện dưới góc độ truyền hình, đó có thể là câu chuyện đã qua, có thể là vấn đề về tư tưởng, về lĩnh vực đặc thù khó khăn cho việc tổ chức hình ảnh, những đề tài về buôn ma túy… Điều này là bình thường bởi nếu như vậy báo viết sẽ có thuận lợi hơn, song với những dạng đề tài khác như bão lũ, dịch bệnh, sự cố tai nạn, hỏa hoạn… chắc chắn truyền hình có ưu thế hơn nhiều bởi sự đặc thù khi mang đến khán giả hình ảnh sống động nhất.


 

Làm thế nào để có đề tài phóng sự hay, hấp dẫn?
Đây luôn là câu hỏi bức thiết đặt ra đối với mỗi phóng viên nói chung, những phóng viên truyền hình nói riêng. Có đề tài tốt là yếu tố đầu tiên để thực hiện một phóng sự hấp dẫn. Vậy có thể khai thác đề tài từ đâu?

* Họp ban biên tập: Những cuộc họp tổ chức sản xuất hàng ngày vào đầu giờ buổi sáng là kênh thông tin chính thống với những đề tài được phân công cho phóng viên thực hiện phóng sự.

* Tính phát hiện của phóng viên: Qua công việc thực tế phóng viên phát hiện đề tài từ cuộc sống, đề tài này qua sự xem xét của cá nhân phóng viên trên cơ sở sự lựa chọn của tư duy ( phát hiện, phân tích, xác định nội dung đề tài…) hình thành đề tài để bắt tay vào thực hiện phóng sự.

* Đề tài phát hiện qua sự cung cấp thông tin của nguồn tin riêng, của nhân dân, của các tài liệu hội nghị, hội thảo, kiểm tra các lĩnh vực, những vấn đề đáng quan tâm qua báo cáo, tiếp xúc cử tri.v.v. Phóng viên luôn quan sát, phân tích những dữ liệu thông tin từ nhiều nguồn. Sự nhạy bén của phóng viên chính là óc quan sát, qua nghe, quan sát, suy nghẫm và giống như sự hoạt động của một trạm ra đa, khi trong tâm trí có tín hiệu báo hình như vấn đề này có điều không bình thường, tại sao những con số báo cáo lại mâu thuẫn? Ý kiến của người dân khi phát biểu tiếp xúc cử tri có điều gì đáng quan tâm… đó là khi sự tập trung đang bắt đầu. Tiếp tục là sự hoạt động mạnh hơn của tư duy và để rồi đề tài của phóng sự ra đời.

* Đề tài phát hiện qua báo chí, tin tức. Ngay cả khi xem điểm tin hàng ngày hoặc đọc báo phóng viên có thể tự sàng lọc thông tin để khai thác đề tài. Ví dụ: Ngay khi xem tin về tình hình mưa bão bắt đầu ảnh hưởng đến đê biển phóng viên đặt vấn đề tại địa phương mình các công trình thủy lợi, các công trình thoát nước đường phố nếu bước vào mùa mưa bão liệu có vấn đề gì không?

* Sự rà soát lại những đề tài trong quá khứ. Đôi khi phóng viên gặp phải tình trạng “ bí đề tài”. Có những lúc hàng loạt đề tài hiện ra, có những lúc thiếu đề tài tốt là chuyện bình thường của phóng viên. Khi gặp trường hợp này lời khuyên là không nên ngồi cắn bút, bóp trán cho ra đề tài mà nên đi ra đường phố, thư giãn tâm trí, hồi tưởng lại hàng loạt đề tài đã qua, chọn lọc để sử dụng nếu phù hợp hoặc mở TV, đọc báo. Rất có thể ngay cả những lúc tưởng chừng vô vọng nhất thì một con số, một hình ảnh, một dòng tin, một câu nói của người bán hàng ở quán cà phê .v.v lại gợi lên một đề tài tốt cho phóng sự.

Cũng cần lưu ý rằng, quá nhiều thông tin sẽ bóp chết thông tin. Một phóng sự ngắn bằng một vấn đề cần giải quyết. Nếu có vấn đề khác nữa hãy dành cho nó bằng một phóng sự khác. Trong một phóng sự ngắn thường chỉ nêu và giải quyết một vấn đề mà thôi.

Cách đặt tên phóng sự ngắn truyền hình:

Cũng giống như các thể loại báo chí khác, đặt tên khơi dậy sự tò mò của khán giả, có sức khái quát nội dung phóng sự phản ánh là điều cần quan tâm khi đặt tên cho phóng sự. Cũng có sự khác biệt của truyền hình, đó là đặt tít cần ấn tượng song lại không được trừu tượng, khó hiểu. Có nhiều cách đặt tên như dạng câu hỏi, dạng đối lập, dạng láy từ… song dạng láy từ trong câu vẫn là cách hiệu quả được nhiều phóng sự sử dụng: VD: Chung cư liệu có an cư? Nước sạch hay sạch nước? Dự án, hiệu quả… hậu quả; Thủ pháp láy từ này có tác dụng khơi gợi sự tò mò của khán giả đối với phóng sự, thu hút sự quan tâm ngay từ đầu.

Kết cấu và thời lượng phóng sự ngắn truyền hình:

Đây có lẽ là điều nhiều phóng viên trẻ mới vào nghề băn khoăn nhiều nhất. Khi đã phát hiện ra đề tài rồi thì cần bắt đầu từ đâu và như thế nào để kể câu chuyện của mình là điều khó khăn.

Thông thường, một phóng sự ngắn truyền hình có thời lượng 1 phút 30 giây. Đây là thời lượng chuẩn của truyền hình ở các nước phát triển. Còn ở Việt Nam, phóng sự ngắn trung bình có thời lượng khoảng 3 phút. Đôi khi, có thể dài hơn tới dưới 5 phút. Điều này được nhiều học giả lý giải là xuất phát từ đặc trưng văn hóa phương Đông và phương Tây. Nhìn chung các nước phương Đông có xu hướng thực hiện phóng sự dài hơn do diễn giải vấn đề chi tiết hơn.

Kết cấu phóng sự ngắn thông thường gồm 3 phần:

- Phần (1): Đây là phần nêu thực trạng vấn đề mà phóng sự phản ánh, đôi khi là hiện trạng, hiện tượng tự nhiên, xã hội mà phóng sự đề cập đến. Trong phóng sự 1’30’’ thì thường 30’’ đầu dành cho nội dung nêu thực trạng vấn đề. Tương ứng với phóng sự ngắn truyền hình sử dụng thông thường ở Việt Nam là 3’ thì dành 1’ đầu cho phần nêu thực trạng vấn đề mà phóng sự đề cập. Kết thúc phần này thường là phỏng vấn nhân chứng, người biết sự việc về hiện trạng được đề cập. VD: Phóng sự phản ánh về sự xuống cấp của một khu dân cư thì phần đầu phản ánh những chi tiết dột nát, nước chảy, đời sống khó khăn của người dân khu dân cư, hết phần 1 là phỏng vấn người dân sống tại khu dân cư đó.

– Phần ( 2): Đây là phần phóng viên thực hiện phóng sự ngắn truyền hình dành để đi tìm nguyên nhân của thực trạng vấn đề đã nêu ở phần (1). Trong phóng sự 1’30’’ thì phần này chiếm thời lượng 30’’, trong phóng sự 3’ như ở Việt Nam thì phần này trung bình khoảng 1’. Như ví dụ trên, phần (1) phóng viên đã phản ánh những chi tiết dột nát của khu dân cư thì bước sang phần ( 2 ) này phóng viên sẽ phản ánh đến người xem nguyên nhân của tình trạng xuống cấp đó. Đó có thể là nhà cũ, sử dụng nhiều năm, có thể là do công trình xây dựng kém chất lượng… Kết thúc phần (2) này sẽ là ý kiến phỏng vấn nhân chứng là người dân hay cán bộ sở tại về nhận định nguyên nhân sự việc, trong trường hợp này là nguyên nhân của sự xuống cấp khu dân cư.

- Phần (3): Phần kết phóng sự, đây là phần xác định trách nhiệm có liên quan đến sự việc được phản ánh trong phóng sự có thời lượng 30’’ trong phóng sự 1’30’’, khoảng 1’ trong phóng sự 3’. Khán giả luôn mong được trả lời câu hỏi vậy cuối cùng ai sẽ phải chịu trách nhiệm về vấn đề được phóng sự đề cập. Tương tự, như ví dụ đã nêu, trong phần này phóng viên sẽ đi tìm câu trả lời cho câu hỏi, ai chịu trách nhiệm về thực trạng xuống cấp của khu dân cư nọ? Đó là Ban quản lý khu dân cư, là chính quyền sở tại hay chủ đầu tư xây dựng khu nhà nếu khu nhà được xây kém chất lượng? Kết thúc phần (3) là phỏng vấn người có liên quan, thường trong các phóng sự ngắn, đây là ý kiến của những nhà quản lý, quan chức có liên quan đến vấn đề mà phóng sự đề cập.

Khởi đầu phóng sự ngắn truyền hình từ đâu?

Có được đề tài tốt trong tay song phải bắt đầu câu chuyện từ đâu luôn là câu hỏi khó khăn. “Vạn sự khởi đầu nan” là vậy. Thông thường, cũng giống như khi sáng tác một bài thơ, một truyện ngắn, khó khăn đối với người thực hiện phóng sự bao giờ cũng là sự khởi đầu phóng sự.

Có hàng trăm con đường để bắt đầu vào một phóng sự ngắn truyền hình. Có nghĩa rằng không có sự cứng nhắc nào để bạn bắt đầu câu chuyện của mình. Tính sáng tạo, sự linh hoạt, nhạy bén của phóng viên thể hiện ngay từ những hình ảnh đầu tiên của phóng sự. Sau khi nắm rõ kết cấu thông thường của một phóng sự, phần (1) là phần nêu hiện trạng, hiện tượng thì phóng viên sẽ tìm ra chi tiết nào quan trọng nhất để đề cập đối với từng phóng sự. Có hàng loạt chi tiết có thể khai thác, đơn cử như trong ví dụ về phóng sự về khu dân cư xuống cấp nêu trên. Chi tiết mở đầu có thể là : Nhân viên quản lý khu dân cư đi chọc vữa trần nhà rơi; Gia đình A đang ăn cơm dưới tảng vữa nứt to trên trần nhà; Gia đình A chuyển nhà đi nơi khác vì căn hộ của họ không an toàn; Nhân viên quản lý đi gọi loa nhắc nhở những vị trí cần đề phòng nguy hiểm; Những đứa trẻ chơi trong nhà đóng kín cửa vì bố mẹ không cho ra ngoài sợ nguy hiểm v.v. Muốn có chi tiết hay phóng viên cần quan sát kỹ khi tác nghiệp, hỏi chuyện cũng là cách phát hiện ra những chi tiết hay để khai thác cho phần mở đầu phóng sự.

Các phóng viên thường sử dụng từ ví dụ cụ thể đến khái quát để mang lại sự sinh động cho phóng sự ngắn. Đây là việc đảo ngược quy trình truyền thống, khác với một bài văn khi luôn mở đầu từ cái chung, cái tổng thể trước khi đi vào chi tiết. Nói một cách hình ảnh hóa thì việc sắp xếp chi tiết mở đầu phóng sự cũng giống như sắp xếp 3 cỡ cảnh: Cận -> Trung -> Toàn thường mang lại hiệu ứng ấn tượng hơn là Toàn -> Trung -> Cận.



Dẫn hiện trường trong phóng sự ngắn:

Dẫn hiện trường ( stand up) đã và đang ngày càng được sử dụng nhiều khi thực hiện phóng sự. Bản thân việc dẫn hiện trường mang tính xác thực thông tin cao, thể hiện sự nhập cuộc của phóng viên với vấn đề phóng sự phản ánh. Trong kết cấu nêu trên, việc dẫn hiện trường hoàn toàn có thể linh hoạt thực hiện trong cả 3 phần của phóng sự.

- Ở đầu phóng sự thường là giới thiệu bối cảnh và tình huống.

- Ở cuối phóng sự thường là đưa ra kết luận hoặc những dự đoán thông tin tiếp theo.

- Ở giữa thường là một thông tin then chốt, gây bất ngờ, tạo kịch tính cho phóng sự.

Lời dẫn hiện trường cần được chuẩn bị tốt, ngắn gọn, xúc tích, người dẫn cần tự nhiên, sáng tạo, linh hoạt, tránh nói ngọng, nói lắp và ngoại hình phù hợp không gian, bối cảnh phóng sự. VD: Tránh trường hợp một phóng viên ăn mặc diêm dúa ở một vùng nghèo khó dễ gây sự phản cảm, tránh tươi cười trước sự việc hỏa hoạn, thiên tai… Hình ảnh quay dẫn hiện trường cũng cần lưu ý bao quát bối cảnh không gian nơi dẫn, có thể linh hoạt dẫn ngồi, đứng hay di chuyển ( traverlling).

Dẫn hiện trường tốt là khi nó thực sự trở thành một yếu tố cấu thành trong phóng sự ngắn, phản ánh mang tính dẫn dắt, điểm nhấn hay gây bất ngờ, khái quát vấn đề hoặc kết, gói lại vấn đề đã phản ánh, tránh sử dụng dẫn hiện trường như một sự minh họa hay chỉ đơn thuần chứng minh phóng viên đã có mặt tại hiện trường. Như vậy sẽ làm giảm hiệu quả dẫn hiện trường.

Một phóng viên có kinh nghiệm luôn chú ý việc dẫn hiện trường bởi giá trị hiệu quả cao của việc dẫn hiện trường. Mặt khác, người phóng viên đó cũng sẽ linh hoạt sử dụng “ đạo cụ” để dẫn hiện trường cho sinh động. Ví dụ: Tay cầm hòn quặng khi dẫn hiện trường ở bãi quặng phản ánh nạn khai thác quặng trái phép, xắn quần lội nước, mặc áo mưa khi dẫn hiện trường ở vùng lũ .v.v.

( còn tiếp)

Văn Đồng
Đài PT – TH Thái Nguyên

Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2012

Tuyển tập giang hồ Sài Gòn - Lâm Chín Ngón


Huyền thoại giang hồ Sài Gòn - Lâm Chín Ngón

Lê Ngọc Lâm, tự Lâm "chín ngón", chở vợ và con trai 6 tuổi đi ăn tối trên đường Sư Vạn Hạnh nối dài (quận 10, TP HCM). Anh ta vừa dừng xe cho vợ con bước xuống thì bất ngờ một thanh niên nhảy xổ tới, tạt thẳng một ca axít vào mặt Lâm. Hét lên một tiếng, Lâm ngã xuống mặt đường quằn quại.

Sự việc xảy ra lúc 20h ngày 14/7/1999 làm Lâm cháy toàn bộ khuôn mặt, hai tai và mũi rụng, cằm chảy ra dính chặt vào ngực. Hai mí mắt cũng chảy ra dính vào nhau, bịt kín con mắt. Tuy qua nhiều lần phẫu thuật chỉnh hình, lột toàn bộ da mông, đùi đắp lên mặt, nhưng mặt Lâm vẫn biến dạng hoàn toàn. Hai mắt gần như loà hẳn, với hai hốc mắt nhỏ xíu được mở nhân tạo. Mỗi lần lấy ngón tay ấn lên, những giọt nước đục như nước gạo từ hố mắt lại ứa ra.

Bị hại, nhưng Lâm "chín ngón" vẫn không cho gia đình báo công an. Trước sau, anh ta chỉ một mực cho rằng tai vạ hôm nay chính là nghiệp chướng mà anh ta đã vay thì phải trả.

Mọi con đường đều dẫn đến... nhà tù

Lê Ngọc Lâm sinh năm 1945 tại Hà Tây, theo gia đình di cư vào Sài Gòn năm 1954. Ba năm sau, những biến cố thời cuộc làm gia đình tan nát, Lâm phải vào Cô nhi viện Thủ Đức khi mới 12 tuổi. Được một thời gian, Lâm trốn khỏi cô nhi viện, nhập vào đám bụi đời, bán báo trên hè phố Sài Gòn. Cô nhi viện dạy cho Lâm biết chữ, còn lề phố dạy cho Lâm biết... đánh lộn để giành mối, cạnh tranh. Những cuộc đụng độ xảy ra như cơm bữa đã biến Lâm thành một người ngang tàng và rất lỳ đòn.

Năm 1963, Lâm thi hỏng tú tài và bị bắt vào quân dịch nhưng đã trốn về Sài Gòn sống lang thang, sau đó gia nhập nhóm bụi đời ở khu Da Heo, đường Nguyễn Công Trứ, quận 1 do Đại Cathay cầm đầu. Vốn liều lĩnh và to khoẻ, anh ta nhanh chóng trở thành một trợ thủ đắc lực của Đại Cathay trong các trận chiến phân chia lãnh địa. Năm 1964, một cuộc tranh hùng như vậy đã chém mất một ngón tay của Lâm. Biệt hiệu Lâm "chín ngón" ra đời từ đó, do chính Đại Cathay đặt. Tháng 11/1966, băng Đại Cathay bị cảnh sát ngụy bắt đày ra đảo Phú Quốc. Tại đó, Đại Cathay tổ chức vượt ngục và mất tích. Lâm "chín ngón" bị bỏ lại, ngồi tù thêm nửa năm thì được thả.

Trở về Sài Gòn, Lâm chuyển sang nghề "ăn bay" (cướp bằng xe máy) và nhanh chóng trở thành một "quái bay". Sử dụng xe Honda 67, loại xe tốt nhất thời bấy giờ, Lâm "chín ngón" đã gây ra hàng chục vụ cướp giật với những người vừa lĩnh tiền ngân hàng đi ra. Trong một lần "ăn bay" cuối năm 1970, Lâm bị cảnh sát ngụy bắt tại trận và bị tống vào trại giam Chí Hoà. Tại đó, Lâm đã được hội ngộ với hầu hết những "tay chơi cộm cán" nhất của Sài Gòn.

Thời hai tay ba đao

Vào thời gian đó, bộ máy cảnh sát, nhà tù của chế độ ngụy Sài Gòn gần như bó tay trước nạn lộng hành của đám lưu manh, du đãng được hỗ trợ bởi ma tuý bán đầy rẫy và rẻ như bèo. Lúc cao điểm, trại Chí Hoà có khoảng 2.000 tên tù hình sự thì cũng gần như ngần đó con nghiện. Vì vậy, bán ma tuý, thuốc phiện đem lại cho các "ông trùm" một nguồn lợi có thể lên tới 20-25 lượng vàng/ngày. Số vàng này khiến chúng vây bè, kết cánh hùng cứ quyền bán ma tuý ở các dãy buồng giam, tranh giành lãnh địa, hoặc hạ bệ nhau, nhằm ngoi lên làm ông trùm để độc quyền thu lợi. Là "đàn anh", như Lâm "chín ngón" ở dãy FG, tuy có thể tự do đi lại giữa các dãy nhưng lần nào cũng phải có vài ba vệ sĩ tháp tùng, nếu không ăn đao là cái chắc. Mỗi khi tham chiến, những tên du đãng này đều hai tay nắm chắc hai con dao. Con thứ ba giắt ngang bụng, phòng khi dao trên tay bị đánh rơi hay bị đối phương tước mất. Hỗn danh "thời hai tay ba đao" bắt nguồn từ đó, để chỉ giai đoạn 1970-1974 trong trại giam Chí Hoà.

Là cánh tay phải của Đại Cathay, từng đâm trầy mặt và hạ bệ "tướng cướp cô đơn" Điền Khắc Kim để giành địa vị ông trùm, Lâm "chín ngón" trở thành một "cao thủ" được độc quyền bán thuốc phiện ở khu FG, đồng thời trở thành đại lý cung cấp loại "hàng đen" này cho toàn bộ trại Chí Hoà. Quyền khai thác "hàng trắng" ở dãy này thuộc về Chương "khùng", một tên giang hồ có số khác, kẻ từng dẫn đầu hàng chục tội phạm người Việt xông vào khu AB cướp thùng đựng tiền của đám tù nhân người Hoa gốc Hong Kong, Ma Cao, Đài Loan... và bị chém trọng thương. Đúng định kỳ, hàng đen từ bên ngoài được gửi vào "thăm nuôi" Lâm "chín ngón". Cai tù biết nhưng làm ngơ để được chia 30% lợi nhuận.

Khoảng giữa năm 1972, đám con nghiện đâm đầu sang mua "hàng đen" khiến thu nhập của Chương "khùng" tụt xuống nhanh chóng. Đàn em của Chương bỏ đi phò Lâm "chín ngón". Chương tức giận, chửi bới om sòm. Một tên "ngang cơ" khác là Năm Lương đổ thêm dầu vào lửa: "Mày chỉ giỏi võ mồm. Thừa biết thằng nào hạ bệ rồi, mày có giỏi thử đụng đến nó coi".

Án mạng bất ngờ

Bị kích động, Chương khùng nổi cơn. Hắn lấy bộ đồ võ vận vào người rồi nuốt 3 viên Renoval để thêm dũng khí, hằm hằm tuyên bố: "Tìm thằng Lâm chín ngón nói chuyện cho phải quấy". Nghe đàn em cấp báo, Lâm đang chơi bóng chuyền ở sân trại liền dừng ngay để đợi. Gặp nhau, Lâm hỏi trước: "Chương! Nghe nói mày đòi dẹp. Mày bảnh thì chơi lại tao coi".

Đang uống nước, sẵn ly cầm trong tay, Lâm "chín ngón" ném ngay cái ly uống dở vào mặt Chương khùng và nhào tới. Quá bất ngờ vì không nghĩ tới chuyện đối thủ phản ứng quá mạnh, lại thấy đàn em của Lâm kéo tới khá đông, Chương "khùng" vội né người tránh ly nước đập vào mặt rồi... bỏ chạy, mặt mũi hầm hầm.

Ở khám Chí Hòa lúc đó có Cương "võ sĩ", tức Vũ Đình Cương, vốn là võ sĩ quyền anh có đẳng cấp, từng nhiều lần thượng đài khắp miền Trung - Nam và Campuchia, nếu đấu tay đôi sòng phẳng, cỡ Lâm "chín ngón" hoàn toàn không phải là đối thủ. Năm 1970, Cương bị bắt vì tội buôn bán ma tuý. Lại là em ruột của Vũ Đình Sơn trùm ma tuý ở Sài Gòn thời bấy giờ nên Cương được đám giang hồ phong làm "đại ca của các đại ca", toàn quyền sắp đặt, sai phái toàn bộ giang hồ trong trại Chí Hoà. Khi các băng nhóm xích mích, chỉ cần Cương nói một vài lời là tất cả đều răm rắp tuân theo.

Sự việc xảy ra lúc Cương "võ sĩ" đang tụ tập với mấy tay anh chị trong dãy BC. Thấy Chương "khùng" vừa chạy qua vừa khóc, Cương bèn ngăn lại hỏi. Chương tố láo: "Thằng Lâm ỷ đông, kéo đàn em đến đòi xử tôi, cấm không cho tôi bán ma tuý nữa". Nghe tới đó, máu "yêng hùng" nổi lên, Cương bèn dẫn nửa tá dân anh chị sang khu FG để "hỏi tội thằng Lâm".

Phần Lâm "chín ngón", đang lúc đấm thình thình vào tường buồng giam 3F4, dọa "luộc thằng Chương", thì được một tên đàn em cấp báo: "Anh Lâm cẩn thận, anh Cương đang dẫn người qua tìm anh đó". Vừa nói, tên này vừa giúi vào tay Lâm mấy con dao lá lúa, dặn: "Anh cầm theo để phòng thân". Lâm bảo "một dao đủ rồi" và chạy ra nghênh tiếp. Khi hai bên đứng đối diện nhau, Cương võ sĩ hỏi: "Lâm! Ở đây, mày với tao, ai là đàn anh?". Lâm chưa kịp mở miệng đã bị Cương tung ngay một cú thôi sơn vào mặt. Nhanh mắt, Lâm né đầu tránh được. Cú đánh khá mạnh nhưng không trúng mục tiêu khiến Cương võ sĩ hụt đà chúi thấp đầu về phía trước. Lợi dụng phút này, Lâm "chín ngón" nắm ngay cổ áo địch thủ lật lên và quơ tay ra sau lưng rút dao... Tất cả diễn ra quá nhanh nên không ai kịp can. Cương chỉ kịp "hự" lên một tiếng rồi ôm ngực vật ra sàn. Nghe ai đó kêu lên: "Anh Lâm, đừng đâm nữa", tên hung đồ mới sực tỉnh. Nhát dao đâm trúng tim, Cương võ sĩ chết ngay tại chỗ. Lâm "chín ngón" mặt tái mét, vội thanh minh trước khi bị dẫn đi: "Tôi không cố ý, tại anh Cương... Thôi, anh em thắp cho ảnh mấy nén nhang giùm tôi".

Sau tai nạn, Lâm trở thành một con người khác hẳn, không nói, không cười, chỉ ở lì trong căn nhà mà ngoài vợ con không ai biết địa chỉ. Anh ta một mực bảo rằng, cuộc đời Lâm chín ngón coi như đã hết và Lâm cũng không hề có ý định sẽ trả thù theo kiểu ân oán giang hồ như anh ta đã từng làm trong hàng chục năm qua.

Bị Lâm giết mất em ruột là Cương võ sĩ, Vũ Đình Sơn, tức Sơn đảo, tay buôn ma tuý có hạng cộng với những "chiến tích" nửa thực, nửa bịa mang về từ 5 năm ngồi tù tại Côn Đảo, lồng lộn lên. Y tuyên bố: "Sẽ lấy mạng thằng Lâm bằng bất cứ giá nào".

Kẻ báo thù đầu tiên được Sơn chọn là Tuấn đả (quê Hộ Hải, Ninh Hải, Ninh Thuận). Khi bị bắt giam tại quân lao Nha Trang, Tuấn từng đâm lòi ruột Sơn trắng, sếp sòng quân lao này, để tiếm quyền. Máu liều Tuấn có thừa, nhưng y khó chơi tay đôi mà thắng được Lâm chín ngón. Sơn chỉ có nước tuồn "chó lửa" vào tù để Tuấn hạ Lâm. Nhưng do cảm kích vì từng được Lâm đứng ra bảo lãnh, giúp thoát khỏi trận đòn hội đồng của toàn thể đám đàn anh ở trại tạm giam Chí Hoà khi vừa mới chuyển đến, nên Tuấn đã từ chối "hợp đồng" mà Sơn đảo nhờ, kèm lời giải thích: "Anh Đại (Đại Cathay) gọi nó là Lâm điên, gọi tao là Tuấn khùng. Không lẽ thằng điên đi bắn thằng khùng".

Mất gần cả năm trời, Sơn mới tìm được người thay Tuấn . Gã này tên là Nguyễn Văn Hoàng, tự Hoàng đầu lâu (theo hình xăm trên bả vai). Nói về võ nghệ, cả trại Chí Hoà không ai sánh kịp Hoàng. Mang đai đen tứ đẳng Taekwondo, Hoàng đã từng hạ hàng chục cao thủ cả Việt lẫn Miên trên sàn đấu. Biết vợ con Hoàng đang sống khó khăn, Sơn bèn bỏ tiền mua một căn nhà mặt phố nhỏ đem tặng, sau đó lại sang một sạp vải ở chợ cho vợ Hoàng đứng bán, làm kế sinh nhai... làm Hoàng tối mắt gật đầu bán mình. Khổ nỗi, trong giới giang hồ Hoàng chỉ thuộc hàng "chiếu dưới", án tù cũng nhẹ, không thể "ngồi cùng mâm" với Lâm chín ngón, để có cơ hội tiếp cận và hạ sát địch thủ. Nhằm tạo cơ hội cho Hoàng, Sơn đã tốn công vạch ra một kế hoạch chi tiết nhằm giúp Hoàng... tăng án, "được" ngồi biệt giam, đồng thời nâng uy tín trong làng dân chơi chứ không vì tăng án mà gây thù hằn, xích mích với một kẻ nào khác.

Trong trại Chí Hoà có một cai ngục là trung sĩ Cách, cháu ruột gọi phó giám thị trại bằng cậu. Ỷ thế, tên này rất "bố láo", luôn tìm cách ăn chặn, phá phách đồ thăm nuôi của tù nhân. Đám tù rất ghét nhưng không tên nào dám ra tay. Một hôm, sau khi nghe các "đàn anh" ta thán, Hoàng đầu lâu xung phong: "Để em thịt nó cho". Kỳ thăm nuôi đến, khi Cách đang xăm soi hũ thịt rim, bẻ đôi từng cái bánh để khám xét thì một tên tù tự giác đến rót vào tai hắn: "Trung sĩ, có người muốn gặp riêng". Tưởng được hối lộ, Cách bỏ ngay việc theo tên cò đi vào phía trong. Không ngờ, Hoàng đã núp sẵn. Ngay khi Cách bước vào liền cầm thanh mã tấu nhằm mặt chém đứt lỗ mũi của tên trung sĩ. Máu xối ra, Cách ôm mặt quằn quại...

Với chiến tích này, Hoàng đầu lâu nghiễm nhiên trở thành "dân chơi thứ thiệt", được giới giang hồ kiêng nể. Trong khi đó, tội nặng thêm, y bị tống xuống khu biệt giam. Ở ngoài, Sơn lại vung tiền lo lót với giám thị, cai tù. Kết quả là hai tháng sau, Hoàng đã ôm giỏ đồ của mình chuyển sang ở cùng một buồng giam với Lâm chín ngón. Kinh nghiệm sống và những lời thì thào to nhỏ trong đám giang hồ đã giúp Lâm thừa biết Hoàng sắp làm gì, nên cũng âm thầm chuẩn bị.

Nhờ đàn em bên ngoài kiếm cho một chiếc quai đeo ba lô hình chữ X bằng inox cho vào quả bí đỏ chuyển vào tù, Lâm mài mỏng thành con dao nhọn hoắt. Sau đó nhờ người mua hộ một chai rượu Remy Martin mời Hoàng uống. Say rượu, Hoàng lăn ra ngủ. Lâm bèn bảo Lý "lắc", cậu bé ở chung buồng giam chuyên phục vụ trà nước đấm bóp cho Lâm đun nồi nước tắm. Khi nước sôi sùng sục, Lâm bê nguyên cả nồi đổ ụp xuống mặt Hoàng. Hoàng thét lên, quằn quại, nhưng không thấy đường để chạy. Rút dao đã chuẩn bị sẵn, Lâm đâm lên hồi vào người Hoàng mặc cho tên này van xin. Chỉ đến khi Hoàng đầu lâu cong người lên, ngáp ngáp mấy cái nằm im, Lâm mới ngừng tay. Tất cả 37 nhát. Lý "lắc" kinh hoàng đứng nép vào góc tường bưng mặt so vai mà không dám khóc. Cuộc giằng co xảy ra khá nhanh và bất ngờ. Khi Lâm đập ầm ầm vào cửa sắt báo mình đã giết người, viên cai ngục đang ngủ gật vẫn không tin. Lúc chạy vào, nhìn xác Hoàng hoen máu nằm thẳng đơ trên nền gạch, viên cai ngục mới thất kinh hỏi: "Sao mày giết nó?". Vứt dao, Lâm đứng thừ người: "Tôi không đâm nó, nó cũng giết tôi".

Lâm chín ngón lại bị tống vào biệt giam. Ở ngoài, Sơn đả vẫn lồng lộn. Nhưng chưa kịp nghĩ ra cách giết Lâm thì chính Sơn lại bị giết chết. Cũng như em ruột là Cương võ sĩ, Sơn bị hạ vì sĩ diện và bỏ mạng bởi đàn em: Phạm Bá Y, tức Y cà-lết.

Nghiệp chướng của một ông trùm

Sau năm 1975, với những tội lỗi đã gây ra, Lâm chín ngón tiếp tục phải sống một thời gian dài trong nhà tù của chế độ mới, chuyển qua nhiều trại giam từ Chí Hoà đi Côn Đảo, về trại cải tạo Cà Mau (năm 1977), sang trại Z30D Hàm Tân, Bình Thuận (năm 1982), lại chuyển qua trại Phú Sơn, Phú Khánh. Năm 1988, sau hơn 20 năm tù tội, Lâm được trả tự do, trở về TP HCM, làm đủ nghề kiếm sống. Năm 1993, Lâm cưới vợ và sinh con, lo chí thú làm ăn, mong muốn đoạn tuyệt hẳn với giới giang hồ.

Nhưng nghiệp chướng đã trót đeo đẳng, chưa chịu buông tha cho Lâm "rửa tay gác kiếm", an phận với cuộc hoàn lương. Một ngày cuối năm 1994, gặp 3 tên giang hồ mới nổi là Trúc lùn, Khải nheo, Tùng nhĩ ở quán thịt chó, Lâm đã nhận lời xuống vũng Tàu đòi Minh Samasa phải tìm cách lấy lại xe máy cho đàn em. Nguyên do là vợ chồng Đức năm nghệ - Sương L'Amour nhận lời cho đàn em xuống Vũng Tàu giúp Minh Samasa đuổi đánh đối thủ cạnh tranh là Phước đầu lâu, Hải lộ. Sau cuộc hỗn chiến, bọn Trúc và một số tên ở lại phá phách, bị công an tạm giam và tịch thu xe máy.

Khi xuống Vũng Tàu, Lâm được Minh đón tiếp niềm nở, đồng thời tổ chức nhiều chuyến ăn chơi du hí, rồi mời hợp tác làm ăn. Thấy nguồn lợi quá lớn (đám Dũng ba lém, Minh samasa tên nào cũng giàu sụ), Lâm chín ngón đồng ý. Sự có mặt của Lâm ở Vũng Tàu đã khiến cho các nhóm lưu manh khác khiếp vía, dạt ra hết, tạo điều kiện cho tụi Dũng, Minh độc chiếm cảng cá, tha hồ nâng hạ giá, bán mua tuỳ ý để làm giàu. Đổi lại, Lâm chỉ việc chường mặt ra cảng nhưng không phải mó tay vào bất cứ việc gì. Mọi chi phí ăn uống chơi bời đều được "bao cấp", kèm sổ lương 5 triệu đồng/tháng. Minh và Dũng còn sắm cả xe máy cho Lâm để "đàn anh tiện đi lại làm việc".

Thấy đất Vũng Tàu làm giàu quá dễ, Lâm nảy ra ý đồ làm ăn riêng, quyết không để đám tài phiệt cảng cá "lợi dụng tên tuổi mình mãi". Ngay sau khi Lâm tuyên bố dự định này, lũ đàn em liền tức tốc gọi vợ chồng Đức - Sương xuống Vũng Tàu, gây áp lực để đuổi Lâm. Tuy "có số có má", nhưng thân cô thế cô, không đương đầu nổi với liên minh tài phiệt kia nên sau vài tháng "chiến tranh", Lâm chín ngón ngậm ngùi chạy trối chết khỏi Vũng Tàu để giữ mạng sống và "giữ tiếng trong giới giang hồ".

Hai năm sau, Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ra quân xoá sổ nạn bảo kê lộng hành trên các cảng cá ở đây. Minh samasa và nhiều tên trong đám tài phiệt cùng nhau vào tù. Thấy vậy, Lâm lại rắp tâm quay lại độc chiếm cảng cá, nhưng cũng không xong do Đức năm nghệ bắn tin: "Nếu Lâm chín ngón mò xuống Vũng Tàu, mạng sống của Lâm và gia đình sẽ không được bảo đảm". Thấy trước không chơi được, Lâm đành tạm bằng lòng với vị trí ông chủ quán thịt chó, sáng chở con đi học, tối đón con về.

Mọi chuyện tưởng chừng đã yên, bất ngờ tai vã bỗng chụp lên đầu Lâm chín ngón. Nhưng anh ta không hề có ý định trả thù và luôn cho rằng, kể từ nay, Lâm chín ngón không còn tồn tại nữa. Đúng hơn, trong giới giang hồ không còn hiện hữu cái tên Lâm chín ngón

Tuyển tập giang hồ Sài Gòn - Đại CaThay




Huyền thoại giang hồ Sài Gòn - Đại CaThay

Ngay cả đám giang hồ cộm cán, đám đàn em tin cẩn cũng không ai biết hắn con ai, tên thật là gì. Chính Đại Cathay cũng… không biết tên thật của mình nốt. Hơn chục lần bị điệu về bót cảnh sát, Đại tự khai cho mình hơn chục lai lịch khác nhau. Theo đó, cha của hắn lúc là Lên Văn Cự, lúc lại là Trần Văn Trự… Mẹ của Đại Cathay cũng khá… nhiều tên, lúc là Hương, lúc là Duyên, sống hay chết thì “có trời mà biết”. Nói tóm lại, như Đại Cathay thường tự nhận, gã là một thằng… con trời có lẽ xuôi tai hơn cả.

Kì thực, Đại tuổi Thìn, sinh năm 1940. Theo tìm hiểu của chúng tôi, mẹ của Đại tên gì không rõ, chỉ biết người xung quanh thường gọi là bà Sáu. Còn cha Đại thì chính tên là Lê Văn Cự, vốn cũng là một tay giang hồ hảo hớn ở khu vực chợ Cầu Muối. Sau năm 1945, Hai Cự tham gia kháng chiến, trở thành lính của “Mười ban tự vệ công tác thành”, sau đó bỏ vào chiến khu rừng Sác đầu quân vào bộ đội Bình Xuyên của thủ lĩnh Ba Dương (tức Dương Văn Dương). Đại sinh ra giống cha như đúc nhưng tuổi thơ rất ít được gần cha. Thuở nhỏ, gã sống với cha mẹ ở đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội (nay la Đoàn Văn Bơ Quận 4). Cả cha lẫn mẹ của hắn đều nghèo, làm nghể chẻ củi thuê cho một vựa củi nằm bên kia Cầu Mống, cạnh chợ cũ, Quận 1. Đại thường xuyên trốn học chạy sang chơi vơi đám trẻ con bụi đời cạnh vựa củi. Hiền lành, ít nói, dù khuôn mặt rất ngầu, tính phóng khoáng, lại rất "lì đòn", những đức tính được "thừa kế" đầy đủ từ cha đã giúp Đại nhanh chóng được đám trẻ đồng cảnh mến mộ. Mới 10 tuổi, gã đã thường xuyên luồn lách vào các chợ, sạp hàng xung quanh, ăn trộm dưa, chuối về chia cho chúng bạn. 

Sau 1945 cha Đại tham gia kháng chiến và bị bắt vào cuối năm 1946, bị đày ra Côn Đảo và ít lâu sau thì chết. Cha mất, mẹ lấy chồng khác. Bố dượng là 1 tay máu me cờ bạc, lại nghiện thuốc phiện năng nên gia sản dần dần biến hết. Cáu bẳn vì sinh kế, ông dượng thường nọc đứa con riêng của vợ ra hành hạ để hả cơn bực tức. Không chịu nổi, Đại bỏ học hẳn, sang vườn hoa Cầu Mống đánh giày, bán báo tự nuôi thân. Khu vực làm ăn của Đại là xung quanh ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) – Nguyễn Công Trứ. Tại đó có 1 rạp chiếu bóng tên là Cathay. Không ngày nào trước cửa rạp hát không xảy ra những vụ đánh lộn giành khách giữa đám trẻ bụi đời. Lì lợm và liều lĩnh, Đại cứ lăn xả vào đối thủ liên tục tấn công, dù kẻ đó có cao hơn nửa cái đầu cũng mặc. Trăm lần như một, Đại luôn là kẻ chiến thắng, dù tay chân mặt mũi đầy vết rách bầm. Nghiễm nhiên, hắn trở thành thủ lĩnh của đám nhóc tì du thủ du thực trong khu vực. Cũng nghiễm nhiên, gã được quyền ráp thêm "tên đất" vào sau tên cúng cơm để trở thành Đại Cathay, "đại ca" đường Nguyễn Công Trứ. Đó là năm 1954 lúc Đại mới 14 tuồi. 

Trở thành "anh chị", Đại được quyền sống mà không mó tay vào bất cứ việc gì. Hắn vẫn đóng thùng đánh giày, nhưng là để giao cho đàn em "đi làm" mang tiền về nộp. Mỗi buổi sáng, hàng chục thiếu niên Ba Binh, Ba Tướng, Ba Gà ( hỗn danh để gọi đám trẻ du đãng chưa có tên tuổi. Ba Binh là quân sư, Ba Tướng là những thằng trực tiếp đi đánh nhau còn Ba Gà là những tên thuyết khách) cả trai lẫn gái tụ tập quanh Đại Cathay nhận công việc và địa bàn do hắn cắt cử, sau đó túa đi, chiều lại đem tiền về cho Đại. Được cái, hắn rất hào phóng, Đại Cathay chia hết tiền cho đàn em, chỉ giữ lại cho mình 1 khoản nhỏ, đủ cà phê, thuốc lá cho ngày kế tiếp. Những đàn em không may bị ế báo, bị mưa ước thuốc, kẹo phải đền tiền, Đại Cathay cũng không chửi bới, đánh đập như những tên "chăn chíp" tham lam khác mà còn lấy của đứa "trúng mánh" cho thêm. Vì vậy, đàn em rất khoái và chị nghe lời "anh Đại". Tình trạng đánh lộn, tranh giành khách trong khu vực của Đại Cathay được dẹp yên. 

Nằm ngay cạnh khu vực của Đại Cathay là bót cảnh sát quận Nhì, thường được gọi là bót Dân Sinh, nổi tiếng dữ dằn. Rất nhiều lần, sau khi dẫn đàn em đi chinh phạt các khu vực khác hoặc đánh dằn mặt người của các băng nhóm đến giành lãnh địa, Đại Cathay đã bị các công cò bót quận Nhì xách tai lôi về bót. Hăm dọa, tát tai, đá đít đủ kiểu, thằng nhóc vẵn trơ trơ không chịu khai tên tuổi những đàn em tham gia ẩu đả, đám mã tà phú lít lại đành thả Đại về. Hết thuốc, các ông cò nảy ra đòn độc để trị Đại Cathay, bắt đàn em của đại đứng xem. Chúng bắt thằng nhóc quỳ giữa sàn nhà, hai ông cò hai bên xốc ngược tay Đại lên, cạy mồm, thả vào một con gián sống. Con vật lập tức chui tọt vào cổ họng lao thẳng xuống dạ dày. Ngứa ngáy, kinh tởm và nhột không chịu được, Đại Cathay ói ra mât xanh, mật vàng. Đám Ba Binh, Ba Tướng xung quanh lè mắt, có đứa hét lên ngất xỉu và đái ra quần. Đại Cathay, sau một hồi nôn thốc nôn tháo, bắt đầu trấn tĩnh, lại tiếp tục câm như hến, tuyệt đối không khai. Không còn cách nào khác, các thầy cảnh sát đành tống Đại Cathay vào trại tế bần hoặc Trại giáo hóa thiếu nhi phạm pháp ở Thủ Đức.

Ở miền Nam trước giải phóng, có bốn nơi được coi là “lò đào tạo du đãng”. Nơi thứ nhất là Trại nuôi dạy trẻ mồ côi, cơ nhỡ nằm tại địa điểm nhà hát Hòa Bình hiện nay. Nơi thứ hai, Làng cô nhi THủ Đức, điều kiện sống khá hơn nhưng vẫn rất lỏng lẻo, tha hồ cho đám tiểu yêu phá phách. Những tên nhóc bất trị nhất, hai trại trên đều không chứa nổi thường bị cảnh sát lùa vào Trại giáo hóa Thủ Đức. Thực chất, đây chỉ là nơi nuôi báo cô đám du thủ du thực, chờ chúng đủ tuổi là đẩy vào quân đội. Nơi thứ tư, Trại Tế Bần nằm bên kia cầu Trịnh Minh Thế (nay là cầu Tân Thuận), là một Trạm trung chuyển giam giữ những tên lưu manh sắp hết tuổi vị thành niên. Sau nửa tháng bị giam, nếu có người nhà bảo lãnh, đóng phạt, tên tiểu yêu sẽ được cho ra. Nếu không chúng sẽ bị nhốt lại, chờ đủ tuổi là tống vào đội quân “cưỡng bức phục vụ” tức lao công phục vụ chiến trường. Kẻ nào bị liệt vào hạng này coi như cầm chắc cái chết. Ngoài mặt trận, việc của họ là đi trước phát cây, mở đường, đào công sự, trong khi chân không giày dép, hai người chung một sợi dây xích chân, muốn chạy cũng không được, mặc kệ mưa đạn vãi cả trước mặt lẫn sau lưng. Biết trước số phận “bia thịt” của mình nên đám du đãng vào trại tế bần chưa ấm chỗ đã tìm cách trốn. Lọt ra khỏi vòng rào các trại, đám nhóc lại lần về với các băng nhóm du đãng, bụi đời.
    (Một góc Sài Gòn xưa)

Hầu hết đám giang hồ Sài Gòn nổi tiếng sau này đều đã từng qua đủ các trại nói trên. Thuộc hang vào ra như cơm bữa, Đại Cathay được liệt vào loại “tù con rạ”, để phân biệt với đám “tù con so” mới nhập trại lần đầu. Ở các trại, Đại Cathay đã làm quen với những Của Gia Định, Lâm Chín Ngón, Hắc Quảy Quảy, Hòa Áo thun… những chiến hữu đắc lực sau này trên chốn giang hồ

Mỗi lần vào trại rồi trốn ra, Đại Cathay càng liều lĩnh hơn, kinh nghiệm hơn, càng “tích cực” lao đầu vào những trận thư hùng-vốn là thứ năng khiếu nổi trội hơn cả ở hắn.Năm 1955, Đại Cathay chuyển sang sinh sống ở khu vực Hãng phân Khánh Hội cạnh Nhà máy thuốc lá Bastos. Đám trẻ con khu vực này đón tiếp Đại Cathay khá nồng nhiệt bằng những trận hỗn chiến. Một lần nữa, sự lì đòn của Đại lại giành phần thắng. Toàn bộ nhóc tì khu vực Khánh Hội, quanh cầu Ông Lãnh, gồm toàn dân bến tàu vựa cá, vựa rau cải – vốn có hạng trong nghề dao búa – đều bị Đại Cathay qui phục về dưới trướng. 

Khi Đại Cathay còn là một cậu bé đánh giày thì toàn bộ khu vực Cầu Mống - Dân Sinh - Cầu Ông Lãnh mà dân giang hồ gọi là khu Da Heo, đều do một tay giang hồ nổi tiếng là Tám Lâu cai quản. Ở trần, quần dài vắt vai, đi đứng nói năng khụng khiệng, nét mặt luôn đằng đằng sát khí, Tám Lâu bị bà con khu Da Heo coi như một hung thần. Nghề chính là đạp xích lô, nhưng thực chất Tám Lâu là kẻ nhận quyền bảo kê thu thuế toàn bộ khu Da Heo, dưới trướng có hàng chục đàn em. Dưới nệm xích lô, Tám Lâu luôn thủ sẵn "hàng mã", sẵn sàng vung ra bất cứ lúc nào với bất cứ ai. 

Nhiều lần chứng kiến thằng nhóc đánh giày dẫn quân đập lộn, Tám Lâu đâm "chịu" Đại. Thỉnh thoảng ngồi nhậu thấy Đại đi qua, Tám Lâu lại ngoắc vào kê ghế cho ngồi cạnh mần hơi cho ấm bụng. Qua những lần nhậu ké đó, Đại Cathay được Tám Lâu giới thiệu như một tay trẻ tuổi tài cao đầy hứa hẹn với đám giang hồ đàn anh: Ba Hội, Cảnh Tượng... Tám Lâu cũng thường đưa Đại đến các khu Lò Heo (cũ), Chánh Hưng, hẻm Hai mươi để làm quen với các tay anh chị khu vực khác. Nể tình Đại Cathay cũng hay ghé đến hẻm 110 Nguyễn Công Trứ để thăm hỏi Tám Lâu. 

Tuy hung tợn, dữ dằn nhưng Tám Lâu vẫn phải thúc thủ trước uy thế của anh em Bé Bún, một trùm giang hồ quận 4, khu vực cạnh Hãng phân nơi Đại Cathay trú ngụ. Cậy đông quân lắm mã, đám này thường kéo rốc qua Cầu Ông Lãnh, tràn vào "thu thuế" giật bà con thiểu thương chợ vựa Cầu Muối, Tám Lâu không cản nổi. 
Một ngày cuối năm 1957, tình cờ nghe đàn anh thở ngắn than dài, nộ khí xung thiên, Đại Cathay đề xuất: 
- Anh Tám để đó em lo. Phải cho Bé Bún nằm viện, đám này mới ngán! 
Tám lâu gạt phắt: 
- Con nít biết gì? Tao còn thua nó, mày là cái đinh gỉ! 

Tự ái Đại Cathay bỏ về. Lúc này đám Ba Binh, Ba Tướng của Đại cũng đã lớn, toàn thanh niên 17, 18 tuổi, lại lăn lộn lề đường nhiều nên cũng khá dày dạn. Nghe lời Đại Cathay, đám này vác dao qua Bến Vân Đồn "chém bậy" vài tay em của Bé Bún để khiêu khích. Điên tiết, Bé Bún hô toàn bộ em út tấn công sang khu Da Heo hỏi tội Tám Lâu. Quân Bé Bún quá đông, khiến Tám Lâu và đám đàn em hoảng hốt, định bỏ chạy. Nhưng vừa qua khỏi Cầu Ông Lãnh, băng Bé Bún đã ôm đầu máu chạy ngược trở lại, kêu la vang trời. Không nói trước với đàn anh nửa câu, Đại Cathay đã âm thầm cho đàn em của mình "trải đệm", bất ngờ "luộc" băng Bé Bún. Dưới sự chỉ huy của Đại Cathay, đám giang hồ tân binh tả xung hữu đột lăn xả vào chém quân Bé Bún, xộc thẳng sang cả bên kia cầu. Nói là làm, Đại Cathay đã xỉ cho Bé Bún mấy nhát sau đó phải nằm viện thật, không dám bén mảng sang giành mối ở khu Da Heo nữa. 
Sau trận hỗn chiến, Tám Lâu đâm ớn "tài ba" của Đại Cathay. Một mặt, Tám Lâu tuyên bố trong khu Da Heo, Đại Cathay có toàn quyền xử sự, mặt khác y lại lo ngay ngáy bị Đại Cathay lấy làm đối thủ. Biết ý, Đại tuyên bố không giành đất, khu Da Heo vẫn của Tám Lâu. Phần Đại, gã chỉ thu thuế các sòng bài, ổ đề, tiệm hút trong khu vực. Tiếp đó, Đại vươn tay bảo kê tất cả các ngành nghề kinh doanh lậu bao gồm xưởng nấu xà phòng, lò mổ heo, lò rượu...trong khu. Có tiền có quyền, Đại dần dần đã khiến các tay anh chị khác phải dạt ra. Đại Cathay tha hồ ăn chơi và làm mưa làm gió. Đầu những năm 1960, thuyết hiện sinh và phong trào hippie bắt đầu thâm nhập vào miền Nam. Các cậu ấm cô chiêu con nhà giàu tuy được ăn học đàng hoàng nhưng cũng học đòi nhau, thường xuyên có mặt ở các nhà hàng, vũ trường, tiệm hút với đủ kiểu quần áo tóc tai dị hợm. Đại Cathay tuy ít học nhưng cũng không hề kém cạnh các bậc trí .... giả trong khoản ăn chơi. 

    (miss Sài Gòn)

Nhẵn mặt ở các nơi đốt tiền nổi tiếng của quận 1, quận 3, Đại Cathay và đám đàn em bắt đầu quen biết với một đám sinh viên, kỹ sư, bác sĩ con nhà gia thế, trong đó có anh em Dzách Bửu, Dzí Bửu, Hùng Đầu bò, Hoàng Sayonara (tay này móc classic bản Sayonara rất "não nùng")... và nhiều văn sĩ nghệ sĩ khác. Đám nghệ sĩ trí thức cũng nể Đại Cathay chịu chơi và khoái vẻ ngang tàng, bụi bặm của gã- trông bụi đời, hippi hơn cả. Chính Hoàng Sayonara sau đó đã trở thành quân sư hoạch định chiến lược làm ăn và chinh phạt cho Đại. Nghe lời các quân sư, Đại Cathay đứng ra cùng với Bảy Si, bà Bảy Trà đá mở sòng bài lấy xâu ở khu vực Cầu Muối. Ban Đầu Đại Cathay không thích mở sòng bài vì dân giàu có đã có các sòng Đại Thế Giới, Kim Chung... Mở nữa e không cạnh tranh nổi, Hoàng Sayonara vẽ: 
- Không chỉ giàu mới máu me đen đỏ. Các sòng lớn như Kim Chung, Đại Thế Giới toàn dân quí tộc, chức sắc, dân giang hồ, người buôn bán ngại vô. Ta mở sòng vừa vừa kéo khách từ đám này. 

Đại Cathay đồng ý. Ở chợ Cầu Muối trước đó Bảy Si (anh vợ Năm Cam – ông trùm sòng bạc sau này) đã có sòng bài sẵn, nhưng khi nghe Đại Cathay đề nghị hùn hạp, Bảy Si cũng không thể chối từ. Thừa thắng, Đại mở rộng ra cả lĩnh vực làm huyện đề 40 con chung với Hỏi, trùm, khu Cây Da Xà. Hắn mua của Hùng Đầu bò một chiếc Traction - 15, chiều chiều cho đàn em lái đi khắp các ngả đường vứt lên từng xấp "phơi" đề cùng với hàng cọc tiền chở về. Quyền lực được tiền bạc hậu thuẫn khiến Đại Cathay càng thêm uy thế. Đến năm 1962, 1963, Đại Cathay đã trở thành một ôm trùm khét tiếng. Gần như hầu hết nhà hàng khách sạn, động mại dâm, tiệm hút chích, sàn nhảy ở khu vực quận 1, quận 2 đều chịu sự bảo kê của Đại. Các vũ trường nổi tiếng như Olympic, Queen Bee, Barcara, Paramouth đều coi hắn như ông chủ đích thực, Đại Cathay và đàn em tha hồ ăn chơi nhảy múa mà không một nơi nào dám viết hóa đơn, thậm chí còn lấy làm vinh hạnh vì được đàn anh chiếu cố. 

Nhưng nguồn lợi lớn hơn cả mà Đại Cathay thu được lại không phải từ tiền thuế bảo kê. Chính giới doanh nghiệp làm ăn lớn là kẻ tình nguyện đóng góp đều đặn để Đại nuôi quân, đồng thời để nhờ vả Đại làm hậu thuẫn khi cần gây sức ép hay giành giật trên thương trường với kẻ khác. Cả anh em tỉ phú Hoàng Kim Qui (Vua kẽm gai), Xí Ngàn mặt rỗ (vua thuốc Bắc), La Thành Nghệ (vua thuốc đỏ) và hơn chục ông vua các ngành nghề khác của người Hoa là những người đều đặn chu cấp cho Đại. Cũng nhờ uy thế của các "vu", Đại Cathay cũng làm quen, "chơi chịu" được với khá đông nhân vật quyền thế và tên tuổi khác. 
Chỉ năm năm sau ngày khởi sự ở khu Da Heo, Đại Cathay đã trở thành một ông trùm không đối thủ, được toàn giới giang hồ kiêng dè, sợ hãi. Nhưng vẫn còn ba ông trùm "lừng lẫy" khác không ưa gì Đại Cathay, đó là Huỳnh Tỳ, ôm trùm Lê Lại, Ngô Văn Cái và Ba Thế. Cho rằng Đại "chơi kèo trên", giành mối, giành đất, Huỳnh Tỳ và Ngô Văn Cái quyết định "hội đồng" diệt Đại. Hai tên giang hồ họp nhau tại vũ trường Aristo (sau này là khách sạn Lê Lai, cạnh khách sạn New World) cùng một giang hồ gộc là Thế Aristo - chủ vũ trường - có thêm Hùng phốc và Luân - 2 giang hồ cộm cán khác cùng hỗ trợ, mời Đại đến "bàn công việc". Không chút nghi ngờ, Đại Cathay đã bất ngờ bị Thế Aristo đá lộn cổ trở xuống. Bốn kẻ phục kích cũng nhất tề rút dao xông vào chém. Đại Cathay vừa đỡ đòn vừa tìm đường thoát thân, chạy được ra ngoài, mình mẩy đầy thương tích nhưng may không chết. Những vết thương chưa kịp kéo da non, Đại đã đơn thương độc mã giắt dao đi tìm từng tên một trị tội. Cả năm tên đều lần lượt bị Đại Cathay chém trọng thương. Cuối cùng Tám Lâu phải nhờ Cảnh Tượng, Ba Hội và một số tay đàn anh khác xin lỗi giúp cho năm tên, Đại Cathay mới nguôi giận, đồng ý "hòa giải". Danh xưng "Tứ Đại giang hồ" bắt nguồn từ đó.

Lẽ ra, với những thành tích bất hảo chồng chất lên nhau, Đại Cathay đã ngồi tù mọt gông từ những năm trước đó. Nhưng xã hội miền Nam đầy nhiễu nhương với bộ máy quan chức được mua bán bằng tiền đã tỏ ra bất lực không trị nổi Đại Cathay và đám du đãng, để mặc kệ cho chúng làm mưa làm gió. Vào thời đó, chức quận trưởng quận 1 trị giá 30 triệu đồng, trong khi lương lính chỉ hơn 300 đồng cho nên những kẻ đương chức chỉ tìm cách vơ vét, làm giàu để bù lại số tiền đã bỏ ra mua lon tước. Cò Ly, quận trưởng quận 1 còn cố tình dung túng cho Đại Cathay mở sòng bài, hoạt động bảo kê thu thuế. Bù lại, hằng tháng, Đại đều có những khoản riêng béo bở tuồn vào cửa sau cho vợ ông Cò. Mỗi chiều thứ bảy, cò Ly và Đại Cathay lại sánh vai nhau bước vào các vũ trường nhà hang sang trọng ăn chơi, đập phá thâu đêm. Đương nhiên, lương quận trượng một năm cũng không đủ chi cho một lần nhất dạ đế vương nên ông cò chẳng bao giờ phải nghĩ đến chuyện móc hầu bao. Có tiền, có quyền, có thế, Đại Cathay quyết định bành trướng xuống Chợ Lớn, lãnh địa của Tín Mã Nàm, ông trùm giới Hắc Đạo người Hoa, xưa nay vẫn được coi là bất khả xâm phạm. 

So với băng du đãng của Đại Cathay, giới Hắc Đạo của Tín Mã Nàm có tổ chức chặt chẽ và hùng hậu hơn nhiều. Dưới thời Diệm - Nhu, toàn bộ hoạt động kinh tài của các bang hội Hoa Kiều Chợ Lớn đều có cổ phần của giới Hắc Đạo. Toàn bộ nhà hàng, sòng bạc, tiệm hút... đều do giới này quản lý hoặc hùn hạp. Tuy nhiên, sau đảo chính tháng 11.1963, do tham lam, chính Tín Mã Nàm đã khiến giới Hắc Đạo suy yếu. Bắt tay với khá nhiều tướng lĩnh, chính khách thuộc phe đảo chính, "Con ngựa điên" đã bán đứng một số cơ sở kinh tài của các bang hội cho chính quyền mới, tố họ là "cơ sở kinh tài của Diệm - Nhu". Mặt khác, Tín Mã Nàm cũng tố cao và giao nộp cho cảnh sát một loạt tay giang hồ Hoa kiều không ăn cánh với y như Hỏi Phòong Kin, Sú Hồng, Cọp Chảy, Quầy Thầu Hao, Hắc Quẩy Chảy... nhằm củng cố địa vị "Vua Hắc Đạo" của mình. Vì vậy, Tín Mã Nàm được trung tá Lê Ngọc Trụ - Trưởng ty cảnh sát quận 5 trọng dụng và ưu đãi, trong khi bị nhiều đàn em oán giận và tìm cách trả đũa. 

Trong những kẻ oán Tín Mã Nàm có tay tài pán tên Chó, người giúp việc cho Tín Mã Nàm quản lý ngành kinh doanh cờ bạc. Biết được sự chia rẽ đó, Đại Cathay đã sai đàn em dụ hàng tên này. Chó đã bán đứng Tín Mã Nàm, kéo một lượng lớn các con bạc nặng ký từ các sòng Đại Thế Giới, Hào Huê về Cầu Muối cho sòng của Đực Bà Tiều và Bảy Si thuộc quyền Đại Cathay, đồng thời bỏ luôn khu Chợ Lớn về theo Đại Cathay mở mang sòng bạc ở khu Sài Gòn. Biết chuyện, Tín Mã Nàm hạ lệnh cho giới Hắc Đạo: 
- Chém bất cứ tên đàn em nào của Đại Cathay bén mảng xuống Chợ Lớn. 

Chỉ chờ có thế, suốt 12 tháng trời, Đại Cathay đã liên tục đổ quân tập kích xuống các điểm làm ăn của Tín Mã Nàm ở vùng Chợ Lớn, chém phứa vào bất cứ ai rồi tức tốc bỏ chạy. Người bị chém thường là dân lành, khách chơi, chính vì vậy họ đâm sợ các điểm ăn chơi giải trí của Hắc Đạo, không dám lui tới nữa. Vắng khách, thu nhập thấp, đám cô hồn bảo kê của Tín Mã Nàm đành túa ra làm ăn lẻ để gỡ gạc, bất chấp kỷ luật của ông trùm. Nhưng cứ tên Hắc Đạo nào lọt xuống khu Sài Gòn là tên đó bị đàn em của Đại Cathay chặn đánh. Đầu năm 1964, biết phe Hắc Đạo đã hết phong độ, Đại Cathay quyết định đánh trận cuối, Đại dẫn theo 9 tên đàn em "chiến đấu" nhất, trong đó có Ba Thế và Lâm chín ngón đi trên 5 xe Goebel bất thình lình tấn công vào quán cà phê ngay trước rạp Hào Huê, đối diện với Đại Thế Giới. Đây là điểm tụ tập của các tay đàn em Tín Mã Nàm vào 2 buổi sáng chiều. 

    (Cảnh sinh hoạt đường Đồng Khánh, Chợ Lớn)

Cuộc tập kích thất bài, hai bên đều thiệt hại nặng nề. Nhưng máu liều của Đại Cathay càng được giới giang hồ truyền tụng và vị nể. Tín Mã Nàm cũng lo lắng: nếu cứ để cho Đại Cathay tập kích mãi như vậy, giới Hắc Đạo chỉ còn nước dẹp hết sòng bài, tiệm hút vì không còn ai dám bén mảng. "Con ngựa điên" phải kìm cơn điên, cử người đến mời Đại Cathay lên nhà hàng Đồng Khánh điều đình. Đàn em cố khuyên Đại đừng vào hang cọp, e bị "trải điệm" nhưng Đại Cathay nổi máu yêng hùng, vẫn quyết định nhận lời. Để tài xế ngoài cửa, Đại một mình tay không lên nhà hàng hội kiến với Tín Mã Nàm. Cử chỉ ngang tàng này khiến Tín Mã Nàm thầm phục. Hắn nhượng bộ, đồng ý giao toàn bộ khu vực từ chợ Nancy về Sài Gòn cho Đại Cathay toàn quyền . Phần quận 5, Chợ Lớn, đàn em của Đại được phép hoạt động với điều kiện không lấn vào những khu vực đã có sẵn người của Hắc Đạo. Riêng các khu vực chợ Sắt, chợ Tân Thành, hẻm "dzách bạc hồ hãn" (hẻm 100), Đại Cathay và đàn em tuyệt đối không được xâm phạm, vì đó là giang sơn riêng của Tín Mã Nàm, nơi vợ bé của y sinh sống.

Phần 2:

Mỗi lần ra đường, Đại Cathay và băng du đãng lại một phen khiến người đi đường khiếp vía. Như một gã con trời thứ thiệt, Đại Cathay chễm chệ trên băng trước chiếc Mustang mui trần do Năm Công lái, có cả chục tên đàn em phóng xe máy theo sau hộ tống. Xe chạy xả ga, hú còi vô tội vạ khiến mọi người hốt hoảng chạy giạt sang hai bên đường, trong khi đám lưu manh tha hồ vỗ tay cười hô hố. Có lúc cao hứng, Đại Cathay còn thượng cả hai chân ra trước kính xe hoặc thò ra bên cửa hông gỏ thùng xe loạn xạ…

Sự ngang ngược coi thường luật pháp của Đại Cathay khiến những kẻ tai to mặt lớn và cảnh sát ngụy hết sức tức tối, nhiều lần tống cổ Đại vào khám. Nhưng bắt cóc bỏ đĩa, chẳng lần nào cảnh sát đủ bằng chứng để giam giữ hắn lâu, đành phải thả. Dùng luật không xong nhiều quan chức ngụy tìm cách mua chuộc hắn.

Biết Đại Cathay đang tuổi quân dịch, viên tướng cao bồi Nguyễn Cao Kỳ - có lẽ do muốn chơi trội – bèn cho gọi tên du đãng đến. Kỳ phủ dụ:

- Tôi biết anh là người có chí, nhưng luật là luật, anh không thể trốn mãi được đâu. Về làm vệ sĩ cho tôi, anh vừa khỏi đăng lính, lại vẫn có quyền hành, muốn đi đâu làm gì mặc sức mà khỏi bị ai thù oán. Anh cứ suy nghĩ cho kỹ, ba ngày nữa trả lời tôi cũng được.

Tên du đãng ít học đời nào chịu suy nghĩ những ba ngày. Kỳ chưa dứt Đại Cathay đã trả lời luôn:
- Dạ, cảm ơn thiếu tướng đã có thịnh tình chiếu cố. Phiền nỗi tôi đi đâu cũng có cả chục gạc-đờ-co hộ tống, giờ tôi lại làm gạc-đờ-co cho người khác, không lẽ để cho tụi nó thất nghiệp?

Tướng râu kẽm bầm mặt nhưng vẫn ngọt nhạt:
- Làm vệ sĩ của tôi, anh là nhân viên công lực của quốc gia, danh giá đâu kém cạnh gì ai? Là quí anh tôi mới bảo thế, chứ nếu cần vệ sĩ tôi đâu thiếu người giỏi

Đại Cathay vẫn ngổ ngáo:
- Dạ, xin lỗi, tôi không hầu thiếu tướng được…

Sau Nguyễn Cao Kỳ đến lượt tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan, giám đốc Nha cảnh sát Đô Thành. Tuyên bố “Đặt giang hồ ra ngoài vòng pháp luật”, tướng Sáu Lèo cho mở “Trung tâm bài trừ du đãng” đặt ở bên kia cầu Bình Triệu (quận 9) và lập “Biệt đội hình cảnh” nhằm tiêu diệt giang hồ do đại úy Trần Kim Chi làm đội trưởng. 

Theo lệnh Sáu Lèo, “Biệt đội hình cảnh” được bắn bỏ bất cứ tên giang hồ nào trên đường phố nếu chúng gây án và chống lại cảnh sát. Sau một thời gian hoạt động, “Biệt đội hình cảnh” vẫn chỉ tóm được một số tên du đãng “tép riu”, tướng Sáu Lèo bèn quay sang tìm cách mua chuộc Đại Cathay hòng “dĩ độc trị độc”. Đính thân Mã Sâm Nhơn, phụ tá của tướng Sáu Lèo đến gặp, đưa giấy mời của ngài chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan cho Đại Cathay. Cùng một đàn em, Đại Cathay có mặt y hẹn. Nguyễn Ngọc Loan ra giá:

- Tôi sẽ nhận anh vào chức vụ đại úy Phó ty cảnh sát quận 7. Anh được toàn quyền hành động, nhưng phải giúp tôi tiêu diệt hết đám lưu manh du đãng.

Đại Cathay từ chối:
- Tôi xuất thân du đãng, làm sao có thể quay lưng diệt du đãng được? Nếu tôi nhận lời, du đãng không chém, tôi cũng chết vì thân bại danh liệt.

Nguyễn Ngọc Loan hạ giá:
- Anh không muốn nhận, tôi không ép, nhưng anh phải giải tán băng nhóm, không được lộng hành.

Đại Cathay đồng ý với điều kiện để cho y và đàn em toàn quyền làm ăn và cai quản khu cảng Sài Gòn, Khánh Hội, khu vực chợ vựa Cầu Muối, và hai bên bờ Kinh Tẻ. Thấy tên giang hồ cứng đầu, Nguyễn Ngọc Loan nổi đóa:

- Tôi lệnh cho anh giải tán hết, nếu không giang hồ, du đãng sẽ không còn đất sống!

Đại Cathay trả lời:
- Giang hồ không có vua, tôi đâu có ra lệnh cho các băng khác được.

Cuộc mặc cả kết thúc. Tiếng tăm Đại Cathay nổi như cồn trong giới giang hồ vì “dám vuốt râu kẽm” tướng Nguyễn Cao Kỳ và từ chối chức tước của Nguyễn Ngọc Loan ban cho. Đại Cathay càng vênh váo hơn. Nhưng chính bằng sự nổi tiếng ấy, Đại Cathay đã tự ký cho mình bản án tử hình

Quá ngạo mạn, đang đang là giai đoạn cực thịnh của băng Cathay, Đại vẫn tiếp tục lộng hành. Không chi ngổ ngáo với tướng Sáu Lèo trong công việc, Đại Cathay còn công khai qua mặt và thách thức viên tướng này trong cả khoản ăn chơi, chẳng thèm lưu tâm gì đến sức nặng của cái lon chuẩn tướng và trọng trách “Chief” ngành cảnh sát mà Nguyễn Ngọc Loan đang nắm giữ.

Vào thời điểm đó, Sài Gòn ngập tràn trong không khí sống gấp và hưởng thụ, không cần biết đến tương lai. Một trong những mốt thời thường của các nhà buôn giàu có, các sĩ quan ngụy hào hoa, các công tử con nhà gia thế là công khai có nhân tình nhân ngãi hoặc cặp bồ với cave, nghệ sĩ trẻ đẹp. Đường đường là một vị tướng, Nguyễn Ngọc Loan đâu thèm để mắt tới các cô cave, ca sĩ phòng trà bình thường. Người ta thường thấy “ông tướng độc nhỡn” thường xuyên có mặt tại vũ trường Olympic trên đường Lê Lợi vào mỗi tối thứ 7. Tại đó, Nguyễn Ngọc Loan là chủ nhân của một vưu vật: ca sĩ Phương Dung nổi tiếng xinh đẹp và quý phái, người được mệnh danh là “con nhạn trắng Gò Công”, lấy vũ trường này làm đất biểu diễn. Mỗi lần đến thăm tình nhân, viên tướng xách theo cả chục tên vệ sĩ thuộc hàng thiện xạ, cũng nổi tiếng ngổ ngáo và chịu chơi, phóng xe Jeep bạt mạng với những đường cua cong lề bạt phố, đạp phanh cháy cả mặt đường.

Olympic cũng là chốn mà băng Đại Cathay thường xuyên lui tới. Hơn thế nữa, Thủy Tàu – tài pán vũ trường Olympic còn là một “mối” rất khoái Đại Cathay. Khác với viên tướng và đám lâu la bụi bặm, Đại Cathay thường lướt trên một chiếc Chevrolet có gắn điều hoà không khí, choáng lộn và êm ru nhẹ nhàng bơi đến cửa vũ trường. Loại xe đó, cả Sài Gòn chỉ có dăm ba chiếc.

So với đám vệ sĩ với lương lính còm cõi, Đại và băng Cathay luôn sẵn sàng “xài lớn”, rút tiền chẳng bao giờ đếm, người ngợm củng “kẻng” hơn, dĩ nhiên là được các em cave ở đây săn đón nồng nhiệt hơn nhiều. Bị “gác kèo”, đám vệ sĩ tức lắm, nhiều lần hậm hực, nhưng Đại Cathay và đám đàn em vẵn phớt ănglê, coi như “chuyện tép”.

Một tối, Đại và khoảng chục đàn em, trong đó có Lâm Chín ngón và Lành Cầu Muối – một tay cảnh sát ăn “rơ” với giang hồ kéo đến Olympic từ khá sớm. Thấy các đàn anh, đám cave ríu rít túa ra vây lấy bá cổ níu tay, chí choé cả gian bar trên lầu 2. Cả đám “vui vẻ” mới chừng nửa tiếng, cánh cửa lại xịch mở. Đám vệ sĩ của Sáu Lèo – không có chủ tướng đi cùng – xộc vào, cũng cỡ chục tên. Ngồi chờ cả 15 phút, đám vệ sĩ vẫn không thấy cô cave nào đến săn sóc. Trong khi đó, ở mấy bàn bên vẵn lien tục vọng sang tiếng cấu véo giỡn hớt rúc rich của băng Cathay với đám cave như thể trêu ngươi. Nổi cáu, cả đám vệ sĩ đưa mắt nhìn nhau và đứng bật dậy. Thiếu úy Hải, một tay nổi tiếng thiện xạ tiến sang, đứng đối diện với Hải Súng của băng Cathay, hất hàm:

- Vui vẻ quá hả? Sang bớt mấy em chứ, để bên này ngồi không, coi sao đặng?”

Vẫn không buông vai cô “đào nhí”, Hải Súng hất mặt:
- Đâu có được, đến trước có phần trước, trâu chậm phải uống nước đục, trách gì?

Viên thiếu úy gườm gườm, đưa tay vào bụng đặt lên báng súng:
- Đừng chơi quê tụi này chớ!

- Thì đã sao? – Hải Súng hếch mặt lên. Lúc này băng Cathay và đám cave cũng đã ngưng đùa giỡn, ngẩng lên thủ thế. Được khích lệ, Hải Súng tiếp: - Thịt người tanh không ăn được, đừng doạ nhau, tụi này không thích!

Bị khiêu khích, mắt thiếu úy Hải vằn lên. Hắn xấn xổ chụp lấy tay cô đào nhí kéo về phía mình, tuyên bố:

- Không thích cũng bắt!

Phần 3

Sợ hãi, cô cave thét lên. Không nói không rằng, Hải Súng vớ ngay chai Black and White trên bàn giáng thẳng xuống đầu đối thủ. Phản xạ nhanh, thiếu úy Hải vội buông cô cave nhảy vọt sang một bên và móc súng. Hai băng xông vào nhau. Bàn ghế ly tách bay tứ tán. Đột nhiên, Đại Cathay hét lên:

- Tụi nó chơi súng, rút, tụi bây.
Pằng! Pằng! Pằng! Ầm

Đại chưa dứt câu, dàn đèn phe lê đã rơi ụp xuống sàn, vỡ tung toé, đồng thời một viên đạn cũng nhằm đầu gối Đại găm tới, xô y gục xuống. Hải Súng vội xô tới xốc Đại lên bỏ chạy. Trong băng chỉ có Hải và Lâm Chín ngón giắt súng theo. Cả hai cũng vội móc ra bắn loạn xạ. Lâm Chín ngón gào lên:

- Anh em rút đi, để tôi lo!

Lúc này, đám cave, bồi bàn đã hoảng hồn bỏ chạy hết. Thủy Tàu khá nhanh trí, vội chạy bổ vào trong sập cầu dao điện. Bóng tối chụp lấy vũ trường đã hỗ trợ cho băng Cathay bỏ chạy. Bị thương, Đại Cathay khó khăn lắm mới được Hải Súng và Ngân Pôcon dịu được xuống lầu và kéo thẳng ra đường. Lúc này, Lành Cầu Muối cũng vừa vặn trờ chiếc Mustang tới, hốt cả bọn lên xe chạy thẳng. Lâm Chín ngón chạy sau cùng. Sauk hi nhả hết đạn, y cũng vội đu cửa số phóng xuống được Tạ Thu Thâu cắm đầu chạy luôn một mạch. Sau lưng, đám vệ sĩ Sáu Lèo vẫn nã đạn theo chíu chíu.

                             (A Saigon night-club dancer 1969. Một vũ nữ Sài gòn năm 1969.)

Không thu phục được Đại Cathay, tướng Sáu Lèo đã ra lệnh cho “Biệt đội hình cảnh” bắt bỏ tù hàng loạt đàn em nhằm cô lập hắn. Núng thế, Đại Cathay đành tìm cách hoãn binh. Một buổi tối, hắn mua nguyên nhà hàng Paramouth mời đại úy Trần Kim Chi đến dự tiệc. Khi rượu đã chếnh choáng, Đại Cathay mới ngỏ ý:

- Nếu đại úy chịu tha một số anh em của tôi vừa bị bắt, chúng tôi sẽ không quên ơn anh…

Viên đội trưởng “Biệt đội hình cảnh” cũng thuộc loại ngang tàng không kém gì Đại Cathay, từ chối thẳng thừng:

- Ăn nhậu là ăn nhậu, bắt là bắt. Nếu anh mời tôi đến đây là để mặc cả thì coi như tàn tiệc, tôi xin kiếu.

Nếu là trước đó mười hôm, máu côn đồ của Đại Cathay sẽ nổi lên ngay. Nhưng đang yếu thế nên Đại vẫn nhũn nhặn:
- Ồ không không. Nếu đại úy không ưng thuận thì thôi. Còn hôm nay mời đại úy đến là để an hem vui vẻ. Mời đại úy cứ tự nhiên, đêm nay toàn bộ nhà hàng này là chỉ để phục vụ chúng ta, đại úy đừng bận tâm làm gì.

Viên đại úy không vui vẻ được lâu, cũng chẳng còn thời gian để bận tâm lâu hơn nơi cõi thế. Sau buổi tiệc chỉ nửa tháng, một chiếc xe “be” chở gỗ không rõ xuất xứ đã “bò” ngang qua chiếc xe hơi CV2 của Trần Kim Chi khi viên đại úy này đang đi công vụ trên xa lộ. Đại úy Chi và viên lái xe chết tại chỗ, chiếc xe gây tai nạn bỏ chạy mất tăm, “không nhận dạng được biển số”. Giới giang hồ đều cho rằng chính Đại Cathay đã sát hại Trần Kim Chi

Cái chết của Trần Kim Chi đã đánh dấu chấm than cuối cùng cho cuộc đời du đãng của Đại Cathay. Tháng 8.1966, với tội danh “Du đãng đặc biệt”, Đại Cathay lại bị tóm cổ. Cùng với một loạt du đãng khác, ngày 28.11.1966, Đại Cathay bị tống lên máy bay vận tải C47 đưa ra giam giữ tại đảo Phú Quốc.

Gọi là “Trung tâm hướng nghiệp” nhưng chính xác, đây là nơi lưu đày những tên lưu manh ngoại hạng dày thành tích bất hảo nhưng không có chứng cớ để bắt quả tang, do chính Nguyễn Ngọc Loan (Ông này là người nổi tiếng với bức ảnh bắn một tù binh Việt Cộng ngay trên đường phố.) đề nghị thành lập nhằm “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn luật pháp”.

Trại là những dãy nhà dã chiến thấp lè tè nằm trong rào kẽm gai bịt bùng đặt cạnh sân bay Phú Quốc ngay tại thị trấn Dương Đông. Gọi là “hướng nghiệp” cho oai, kỳ thực đám tù suốt ngày chỉ ngồi ngáp vặt, đánh mạt chược mà không hẹn ngày về chứ chẳng có việc gì để làm. Một hôm, đang đánh mạt chược, Đại Cathay bảo:
- Gọi “hướng nghiệp” nghe chán thấy mẹ, tụi mình đặt lại tên cho nó đi.

Cả bọn đồng ý. Bác sĩ Nghiệp, một tên du đãng có học đề xuất:
- Bốc đại một con mạt chược, trúng con gì, đặt tên đó. 

Đại Cathay quơ được con Cửu Sừng, vậy là “Trung tâm hướng nghiệp Phú Quốc” nghiễm nhiên trở thành “Trại Cửu Sừng”.

Không giống như dự định của tướng Sáu Lèo và sảnh sát ngụy, Trại “Cửu Sừng chẳng những không “hướng” được chút “nghiệp” nào cho đám đầu trâu mặt ngựa mà ngược lại hoàn toàn. Toàn bộ đám du đãng bị bắt vào đây như Đại Cathay, Hải Súng, Hoà áo thun, Lâm Chín ngón, Bảy Si, Hỏi Phoòng Kin, Thanh tưa, Quẩy Thầu Hao.. sau này đều là những tên giang hồ cộm cán nhất của Sài Gòn – Chợ Lớn, càng ngày càng hung hãn hơn. “Trại Cửu Sừng” như một con dấu chất lượng để đánh giá giang hồ. Tên nào từng ngồi ở “Trại Cửu Sừng” sau này đểu trở thành đàn anh, được quyền ăn trên ngồi trốc trên chốn giang hồ.

Người vợ cuối cùng, cũng là cuộc tình sâu nặng nhất của Đại Cathay là cô Nhân, con gái chủ tiệm đồ gỗ Đồng Nhân nổi tiếng nằm trên đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) đối diện với vũ trường Olympic. Khi Đại và cả đám đàn em bị tống ra đảo Phú Quốc, Nhân ở lại Sài Gòn, biết chắc rằng loại tù không án như chồng mình e khó có ngày về. Cô cùng anh trai vung tiền ra tìm cách cứu Đại Cathay.

Đầu tháng 1.1967, Nhân có mặt trong đoàn thân nhân ra thăm nuôi đám du đãng bị nhốt ở Trại Cửu Sừng. Gặp Đại Cathay cô báo cho chồng biết đã lo xong việc tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục. Đám lính gác sẽ làm ngơ cho Đại Cathay và một số đàn em trốn ra khỏi trại. Một xuồng máy chờ sẵn sẽ đưa đám tù ra khơi, có tàu hải quân do Nhân bố trí sẵn rước về đất liền. Để mua chuộc đám lính gác, Nhân đưa cho Đại một chiếc áo bluson và dặn dò kỹ lưỡng. Nhìn bề ngoài, nó chỉ là một chiếc áo lạnh rẻ tiền, sau lưng có một con rồng ấp quanh bản đồ Việt Nam thêu hai màu, nửa miền Bắc màu đỏ, nửa miền Nam màu vàng. Loại áo này bán nhan nhản dọc các tiệm đường Lê Thánh Tôn, trong chợ Dân Sinh… chủ yếu để đám lính Mỹ sắp hồi hương mua về làm kỉ niệm.

Khi chuyển áo cho Đại Cathay, tên lính canh của trại hướng nghiệp Phú Quốc thấy nó nặng hàng ký nên đâm nghi ngờ. Lần theo lưng áo hắn sờ thấy giữa hai lần vải có hàng chục miếng kim loại mỏng được khâu đầy trong đó. Đoán là vàng, tên lính canh định lôi ra khám xét. Lập tức cái liếc xéo mắt của tên sĩ quan đứng cạnh đã ngăn hắn lại. Tên lính đành trả lại áo cho Đại Cathay mang về phòng. 

Theo lời đồn đại của giới giang hồ thì khi về phòng, Đại Cathay đã xé chiếc áo lấy ra đúng 62 lá vàng loại 1 lượng khâu trong đó. Với số vàng này, Đại đã mua chuộc đám cai ngục để chúng bố trí cho lính gác làm ngơ khi Đại bỏ trốn. Đi theo Đại Cathay có khoảng một chục đàn em trong đó có Xì kíp, Lắm Mổ bụng, Hùng Mỏ chuột, Hải Súng và Lâm Chín ngón… Đến phút cuối, Đại Cathay theo lời Hải Súng tham mưu, quyết định để Lâm Chín ngón – gã đệ tử thân nhất - ở lại. Đại nói với cả đám:

- Thằng Lâm lóc choc, dễ làm bể chuyện lắm. Vả lại, chuyến đi này lành ít dữ nhiều, nó còn trẻ, tội lắm. Chi bằng để nó lại, mình thoát rồi lo cho nó về sau an toàn hơn. 

Trước giờ khới sự, Đại Cathay gọi Lâm Chín ngón đến và bảo:
- Mày phải bỏ xì ke đi, hại lắm. Tao chích cho mày một lần cuối cùng, sau đó là phải chừa hẳn, nếu không đừng trách.

Đại đã tự tay chích cho Lâm một mũi gấp đôi đô bình thường do chính tay Hải Súng pha chế, có độn thêm một ít tân dược để tăng nồng độ. Phê thuốc, Lâm Chín ngón quay ra ngủ say như chết. 12 giờ đêm ngày 7.1.1967, Đại Cathay dẫn đàn em đào thoát ra ngoài. Theo sự phân công của Đại Cathay, đám tù trốn trại chia làm hai tốp. Tốp thứ nhất gồm năm tên đi trước để nghi binh. Tốp thứ hai, có Đại Cathay và Hải Súng chạy theo hướng bờ biển. Bất ngờ, khi cả hai tốp vừa vọt ra khỏi vòng rào thì phía trại báo động inh ỏi. Tốp thứ nhất, gồm Xì kíp, Hùng Mỏ chuột,.. bị tóm cổ lại ngay. Đại Cathay và Hải Súng vội đổi kế hoạch, chạy lên phía Bắc đảo, lần vào khu núi tượng, nơi có Quân giải phóng hoạt động. Đến đây, không ai còn tận mắt gặp lại Đại Cathay và Hải Súng. Và hàng loạt giai thoại giải thích sự mất tích của hai tên du đãng đầu sỏ bắt đầu xuất hiện.

...Theo hồ sơ về cái chết của hai tên du đãng mà chúng tôi có được: Biết không trị nổi Đại Cathay, lại nhiều lần bị tên đãng làm bẽ mặt, chuẩn tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan rất hận, tìm cách loại trừ vĩnh viễn Đại Cathay. Khi biết cô Nhân – vợ Đại – đang tìm cách lo lót tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục… Nguyễn Ngọc Loan đã chỉ đạo cứ để cho Đại Cathay thực hiện kế hoạch. Đến giờ chót, theo lệnh Loan, toàn bộ toán lính gác của trại hướng nghiệp bất ngờ bị đổi. Toán lính gác mới ráo riết truy kích đám tép riu, còn Đại và Hải, chúng cố ý để cho đào thoát vào núi Tượng. Sau đó, Loan cho một tiểu đội biệt kích do thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được trực thăng chở từ Sài Gòn ra truy kích Đại và Hải, bắn hạ chúng. Khi đi, toán biệt kích dù phải thay quần áo bà ba, đội mũ tai bèo, mang dép râu và sử dụng súng AK47, giả trang làm Quân giải phóng để đổ vấy cho việc giết Đại Cathay và Hải Súng cho phía Cách Mạng. Diệt xong, toán biệt kích dù phải đắp mộ, đề bia tử tế để dễ bề nhận diện và gây dư luận. Chính thiếu úy Trần Tử Thanh sau này đã từng huênh hoang khoe với nhiều phóng viên của một số tờ báo ở Sài Gòn trước 1975 rằng chính tay y đã nổ súng hạ gục Đại Cathay. Khá nhiều người cũng biết rõ ngọn nguồn sự việc, song trước khi ngụy quyền sụp đổ, không một tờ báo nào dám viết về âm mưu hại địch thủ của tướng Nguyễn Ngọc Loan. Vì vậy, lời đồn đại, đoán non đoán già vẫn cứ loang ra mãi, đắp thêm chất huyền thoại vào cuộc đời và cái chết của Đại Cathay – tên du đãng ngoại hạng.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | GreenGeeks Review