THE ART IN MY HEART !!!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dựng Phim. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dựng Phim. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013

Nghệ thuật dựng phim



Xin trích đăng loạt bài “Về nghệ thuật dựng phim” của Nhà phê bình – nghiên cứu điện ảnh Bêla Balat, nhằm giới thiệu về kỹ thuật quay phim cách nghệ thuật mà nhà nghiên cứu này đã “kiến thức hóa” qua một số phim nổi tiếng như: Jeanne D’arc, Một Mối Tình Của Jeanne Ney, Bóng Tối Trên Yoshiwara…
KỲ 1: CẢM GIÁC VỀ KHÔNG GIAN:

Trước hết, chiếc máy quay cơ động, chiếc máy của toàn cảnh lưu động làm chúng ta được sống trong một không gian hiện thực. Cái không gian đã không trở thành một viễn thị (tức là hình ảnh mà chúng ta ngắm từ bên ngoài, trái lại nó vẫn là một không gian trong đó chúng ta di chuyển cùng với bản than chiếc máy quay, và chúng ta đo những bước chân, qua đó rút kinh nghiệm sống về thời gian cần thiết để vượt những khoảng cách ấy.

Trong phim Jeanne D’arc của Dreyer, chúng ta không hề thấy địa điểm của Pháp đình tôn giáo. Chúng ta không nhìn thấy nó. Như vậy chúng ta chỉ được xem một hình ảnh với hai chiều, mặc dù nó nằm trong luật viễn cận. Những máy quay lia trước những cái đầu. Chúng ta vượt qua không gian cùng với chiếc máy và chúng ta cảm thấy không gian ấy.

TÍNH LIÊN TỤC CỦA KHÔNG GIAN:

Trong phim Một Mối Tình Của Jeanne Ney của Pabsi: Một gã cho vay nặng lãi, lo lắng ban đêm cầm đèn pin đảo qua khắp ngôi nhà của hắn. Chùm tia sáng này bò theo dọc tường, từ vật này sang vật khác. Chiếc máy quay đi theo nó trong một hình toàn cảnh. Nó ngập ngừng dừng lại một lát, run rẩy. Chùm tia sáng vẫn dó dẫm tiến lên, như một cái ăng-ten bị kích thích. Mỗi bước tiến lên trong căn phòng là một bí mật mới, một khả năng mới, một chờ đợi mới. Những đặc điểm được vượt qua từng bước một. máy quay theo dõi nó từng giây một, trong căn nhà.

Nhưng trong cả cảnh viễn thị được quay rút ngắn, thời gian vẫn còn cho thấy tính hiện thực của không gian. Trong phim Bóng Tối Trên Yoshiwara, Kinugasa bất thình lình chuyển máy quay từ vật này sang vật kia với tốc độ của mắt nhìn. Nhưng khỏang trung gian không bị che lấp. Tính lien tục của không gian, không bị gián đọan. Chúng ta cảm thấy thế, không phải với tư cách là cái kho chứa, cái địa điểm nhận những đồ vật mà với tư cách chính mình là không gian, độc lập với những vật cá biệt. Trong Nhựa Đường, Joe May cho ta thấy căn phòng của viên đội cảnh sát. Chúng ta đi từ vật này sang vật kia bằng máy quay. Từ cái tủ com-mốt đến cái chuồng chim, từ cái bàn đã bày bữa ăn đến cái đồng hồ treo tường và cuối cùng đến con người ngồi trong căn phòng, tựa hồ chúng ta là một trong những người chủ nhà của nó. Chính nhờ có những khoảng cách đã đi qua đó, chúng ta cảm thấy sự chung sống trong ngôi nhà tiểu tư sản này ngột ngạt biết bao – đó là điều một hình tòan thể không thể cho chúng ta cảm thấy được…

KỲ 2: TRÌ HOÃN KHOẢNG CÁCH

Chúng ta nhìn thấy trên đặc tả một thay đổi diễn cảm đột ngột, một nụ cười hay một sự khiếp sợ. Nhân vật hữu quan đã nhìn thấy một cái gì, cái gì thế? Chúng ta vẫn chưa biết, máy quay ghi một toàn cảnh về phía mắt nhìn, thong thả rất thong thả đi qua khoảng cách trung gian cho tới khi nguyên nhân của thay đổi diễn cảm xuất hiện trên hình ảnh.

Hoặc ngược lại: Trong một cuộc đối thoại, máy quay đưa đi đưa lại toàn cảnh của đặc tả, từ người đối thoại này đến người kia. Người này làm một cái gì đó, người kia sẽ phản ứng ra sao? Chúng ta không biết ngay lập tức. Máy quay từ từ xoay về phía anh ta và người xem phải đoán trước…

Ở đây thời gian tự nhiên cũng có thể bị kéo dài ra. Cái gì đó không gây hiệu quả trái tự nhiên, vì nó không bị cảm thấy như một ngưng đọng của hành động, mà như một sự trì hoãn của thể hiện.

Đây là một thí dụ cổ điển lấy từ phim Charlot Đi Lính, Chaplin ở trong một chiến hào cùng với những người khác đợi lệnh tấn công. Run lên vì sợ hãi, anh ta rõ ràng phải cố gắng một cách tuyệt vọng để vờ ra vẻ bình thường (vì không có nghệ thuật nào để tỏ ra can đảm khi người ta sợ hãi, nhưng sợ đến thế thì…). Trong cơn bị kích động, Chaplin đánh vỡ cái gương trong túi, những người bạn mê tín thấy thế liền trách anh ta. Vì lúc này anh ta bị điềm gỡ rồi, những người bạn không thể lùi thật xa trong cái chiến hào chật hẹp – chỉ hai ba bước là đã hết… Nhưng hình toàn cảnh chiếu cái khoảng cách ấy chậm chạp đến nỗi như kéo dài ra bất tận. với cử chỉ nhút nhát, ngập ngừng Chaplin cố chìa tay về phía các bạn nhưng sao họ xa cách đến thế. Bởi vì việc đó kéo dài quá, cho đến khi máy quay đang đưa theo con mắt nhìn của anh ta xoay trở lại. Anh ta cảm thấy sự xa cách ấy lớn quá… “Chẳng lẽ bị cô độc trên đời đến thế này sao?”. Cái nhìn chậm chạp như nói lên điều ấy.

Người ta đã nhìn thấy những hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ của sa mạc, khoảng vô tận được chụp hình. Nhưng chưa có người nào bị cô độc khủng khiếp đến thế. Cái ba bước chân ấy quanh Chaplin trở thành sa mạc của sự ruồng bỏ không phương cứu chữa. bởi vì thời gian có vẻ như lâu đến chết người – nhờ toàn cảnh cho đến lúc người ta nhìn thấy người đồng loại. Anh ta mang trong người tất cả nỗi cô độc của tạo vật. Vả lại là kẻ đồng đội trong một cuộc đua ngựa hoặc đi săn. Người ta vẫn ngồi tại chỗ và thưởng thức. Một phần của giây đồng hồ có thể cảm thấy được. Sự phát triển có thực của tình huống trở thành dựng phim. Chúng ta trở lại phim Một Mối Tình Của Jeanne Ney, Feanne gặp người đàn ông mà cô ta yêu lần đầu sau một thời gian xa cách khá lâu. Họ đã nhìn thấy nhau nhưng một hàng rào sắt đã ngăn họ đến với nhau. Ô tô của Feanne ở bên này hàng rào trong khi người yêu của cô ta đi phía bên kia. Máy quay đi theo họ, hai người đều có trong cảnh. Sự kích thích của phút cuối kéo dài trong một nhịp độ mạnh dần. Họ ôm chầm lấy nhau. Nhưng việc này không phải là một động tác kéo dài trong một giây. Họ lao vào nhau bằng cách vượt một khoảng cách rộng. Khoảng cách ấy hóa thành sự cưỡng lại, sự chia cách. Vượt qua nó, chiếc máy quay đã đo được cường độ của một lòng khát khao cháy bỏng…

KỲ 3: DỰNG CHỦ QUAN

Khi máy quay bám sát một nhân vật trong một thời gian khá dài, các hình ảnh diễn ra tạo thành một sự dựng chủ quan, nhưng ấn tượng bủa vây lấy nhân vật đó. Tựa hồ người đạo diễn không muốn dùng chiếc kéo để can thiệp vào. Tựa hồ nhà thơ kể câu chuyện với cách nhân xưng ở ngôi thứ hai vậy.

Môi trường hiện thực trong không gian hiện thực trở thành dựng nhờ có người đi qua nó. Đó không phải là những hình ảnh đi qua như thường lệ trước khán giả mà trái lại chính là khán giả đi qua trước những hình ảnh ấy. Một người nào đó loạng choạng tách một lối đi qua đám đông. Một người khác đi qua một vùng đất lạ hoặc lọt vào những căn phòng mà anh ta không quen biết. Chiếc máy quay vẫn theo sát. Dáng đi trở thành một thể nghiệm sống trong dựng, và cả đến bước đi nữa tuy là một trong những biểu hiện đặc trưng nhất của sự vận động vẫn luôn luôn hết sức gần gũi với hình ảnh. Dáng đi của một người trước máy quay trở thành một trong những hành động kịch câm quan trọng nhất của anh ta.


Khi những địa điểm hành động nối tiếp bằng nhòa mờ chúng có cái gì không rõ như sự bồng bềnh của trí tuệ, giống những hình ảnh trong kỷ niệm. Trong khi chúng vẫn là những địa điểm rõ ràng, người ta có thể phân biệt nơi nọ với nơi kia. Song trong phim Narkose, ta thấy những cảnh như sau: Em bé gái bị đuổi ra khỏi lớp học. Em đi. Máy quay đi kèm em. Em bé đi trong tuyết. Em đi gần một cái cây phủ đầy tuyết. Nhưng người ta vẫn nhìn thấy những cầu thang và hàng cột trong tiền sảnh. Chúng ta đi vài bước với em bé. Em bé nay lại ở trong cái sân phủ đầy tuyết – hoặc giả em bé ngồi trong phòng. Em ngước mắt nhìn và mỉm cười, có vẻ ngạc nhiên. Một toàn cảnh của máy quay theo dõi mắt của em nhìn dọc theo bức tường và những cửa sổ sáng ánh đèn của một ngôi nhà sang trọng hiện lên màn ảnh. Máy quay lại toàn cảnh dọc theo bức tường và em bé gái ở phía dưới, ngoài phố, trước mắt ngôi nhà.

Khi sự thay đổi địa điểm này thành địa điểm khác có vẻ không chân thực thì nó tạo ra hiệu quả của một truyện cổ tích hoặc một trò ảo thuật. Nhưng mơ lại là chuyện khác, một địa điểm này không biến thành một địa điểm khác nữa. Chúng ta nhận thấy tính phi hiện thực của nó chính là nhờ tính liên tục hiện thực của toàn cảnh, do chỗ chúng ta đi qua nó. Ở đây không chỉ có dựng là kỳ ảo, mà cả đến bản thân của sự vật cũng thế. Chỉ một cái máy quay lưu động có thể dựng lại cái cảm giác mộng mị đó…


(Theo Thế Giới Điện Ảnh)

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013

Quay phim, Đạo diễn hình ảnh: Hoạ sĩ vẽ bằng ánh sáng. ( Director of Photography- Cinematographer )


Thời trước, công việc quay phim được giao cho một người. Người này không chỉ sử dụng máy quay mà còn phải rửa và tráng phim trong phòng kín. Tuy nhiên theo thời gian, khi nghệ thuật quay phim ngày càng phát triển và trở nên phức tạp, nhiệm vụ của nhà quay phim dần dần đặc trưng hơn và sự đóng góp của họ trong bộ phim ngày càng quan trọng. Rất nhiều sáng tạo kỹ thuật ghi nhận cho đạo diễn D.W.Griffith bắt nguồn từ nhà quay phim của ông, Billy Bitzer, hoặc sự cộng tác thân thiết đầy sáng tạo giữa hai người.

1. Họa sĩ vẽ bằng ánh sáng
Thời trước, công việc quay phim được giao cho một người. Người này không chỉ sử dụng máy quay mà còn phải rửa và tráng phim trong phòng kín. Tuy nhiên theo thời gian, khi nghệ thuật quay phim ngày càng phát triển và trở nên phức tạp, nhiệm vụ của nhà quay phim dần dần đặc trưng hơn và sự đóng góp của họ trong bộ phim ngày càng quan trọng. Rất nhiều sáng tạo kỹ thuật ghi nhận cho đạo diễn D.W.Griffith bắt nguồn từ nhà quay phim của ông, Billy Bitzer, hoặc sự cộng tác thân thiết đầy sáng tạo giữa hai người.

Đạo diễn hình ảnh hiện đại ( Director of Photography- Cinematographer )
Không bắt buộc là người trực tiếp cầm máy quay, nhưng họ phải chuyển tải được ý tưởng của biên kịch và đạo diễn thành hình ảnh sống động. Dưới tay Đạo diễn hình ảnh có nhiều người phụ trách từng việc riêng biệt. Những người này giúp Đạo diễn hình ảnh rảnh rang để giải quyết trách nhiệm chính - sáng tạo tâm trạng, không khí, kiểu quay phù hợp cho mỗi cảnh và duy trì chất lượng những việc này trong suốt cả phim.

Đạo diễn hình ảnh được coi là hoạ sĩ vẽ bằng ánh sáng. "Nếu không nhờ trình độ và tài năng của đạo diễn hình ảnh thì không thể nào chuyển tác phẩm của nhà văn thành những cảnh phim sống động cho mọi người xem", nhà quay phim Michael Benson nói. Vai trò của Đạo diễn hình ảnh bắt đầu từ khi phim còn chưa bắt đầu bấm máy. Họ thường xuyên phải hội ý với nhà sản xuất và đạo diễn về vô số chi tiết kỹ thuật, kể cả sự lựa chọn nguyên liệu phim và phòng kín. Họ cũng thường chọn địa điểm được tả trong kịch bản để chắc chắn nó thích hợp với cảnh quay, tính toán bao nhiêu máy quay và dụng cụ ánh sáng đủ để quay cảnh đó. Đạo diễn nghệ thuật và hoạ sĩ thiết kế phông màn cùng thảo luận với đạo diễn hình ảnh về góc độ ánh sáng và cách lắp đặt máy quay trong mỗi cảnh.


Nhiều người nghĩ rằng đạo diễn chỉ cho diễn viên những việc phải làm và Đạo diễn hình ảnh ghi hình cảnh đó. Điều đó đúng, nhưng quá trình này không chỉ đơn giản như vậy. Sự chuyển biến từ kịch bản ban đầu đến những hình ảnh trên màn ảnh rộng diễn ra qua ống kính của Đạo diễn hình ảnh. Làm phim là tập hợp những gì có sẵn và lọc qua một thiết bị- máy quay. Trước khi ghi hình cảnh đầu tiên, tất cả chỉ có hợp đồng, ý tưởng, khái niệm, kịch bản, và hy vọng mà thôi.

Một khi phim đã khởi quay, đạo diễn hình ảnh là người quan trọng thứ hai trong đoàn, chỉ sau đạo diễn. Làm việc cùng nhau, đạo diễn và đạo diễn hình ảnh quyết định góc quay, bố trí, chuyển động máy quay trong từng phân cảnh. Việc gì đã làm cho đạo diễn hình ảnh đặt máy quay ở đây mà không là ở đằng kia? Janusz Kaminski cho rằng: "Tất cả những kinh nghiệm cuộc đời của một người tạo ra mỗi chọn lựa sáng tạo của anh ta. Đó là điều tạo nên dấu ấn riêng cho mỗi đạo diễn hình ảnh". Rồi họ chọn ống kính và bộ lọc sáng phù hợp để có thể đạt được những nét cơ bản theo kịch bản có trước, xác định độ sáng, dựng dụng cụ tạo sáng để tạo được hiệu quả và màu sắc đặc thù. Sau đó đạo diễn hình ảnh cùng xem lại cảnh đã quay mỗi ngày để đánh giá hiệu quả công việc và thay đổi kịp thời trong lần quay tới.

Vào giai đoạn cuối, đạo diễn hình ảnh giám sát sự thay đổi của bản phim đầu tiên trong phòng kín để chắc chắn độ sáng và phong thái các màu sắc chủ đạo phù hợp với những hình ảnh chất lượng trên màn ảnh rộng cho khán giả thưởng thức. Đạo diễn hình ảnh bỏ nhiều thời gian vào công việc, bù lại họ mang đến cho khán giả, trong vài giây phút ngắn ngủi, cơ hội để đến một thế giới hoàn toàn mới lạ.

2. Các vị trí khác trong nhóm quay phim

Đạo diễn hình ảnh có phải là nhà quay phim không?
Câu trả lời là "phải". Trong những đoàn làm phim nhỏ, Đạo diễn hình ảnh vẫn hay đảm nhận việc ghi hình. Nhưng nhà quay phim không phải lúc nào cũng là Đạo diễn hình ảnh. Nhà quay phim thường sử dụng ánh sáng từ các hướng khác nhau để quay cận cảnh mặt diễn viên. Đôi lúc trong những cảnh nhiều máy quay phim ở các góc độ, họ không sử dụng ánh đèn nào cả. Nhà quay phim điều khiển máy quay, kiểm tra và chịu trách nhiệm về các đoạn phim đã thực hiện: ánh sáng, góc nhìn, hình ảnh và sự diễn đạt âm thanh. Họ cần nắm rõ cấu tạo của máy quay và thường giải quyết những vấn đề kỹ thuật xảy ra trong suốt quá trình làm phim.

Đạo diễn hình ảnh thì thạo sử dụng ánh sáng với nhiều kiểu và độ nhoè khác nhau. Trong những cảnh hoành tráng, đạo diễn hình ảnh thường quản lý nhiều nhà quay phim lo riêng về các chuyển động của máy quay. Sự khác biệt giữa hai chức danh, ngoài kinh nghiệm và kỹ thuật, còn nằm ở khoản lương họ nhận được.


Trong những đoàn làm phim lớn sẽ có thêm:

+ Trợ lý quay phim thứ nhất ( Focus Fuller ) - thay ống kính, giữ máy quay hoạt động theo đúng chế độ, giữ nguyên mục tiêu khi máy quay chuyển động, đánh dấu vị trí diễn viên đứng và đo khoảng cách từ vật thể đến ống kính.

+ Trợ lý quay phim thứ hai ( Clap Boy)- chuẩn bị đạo cụ cho Trợ lý thứ nhất, thay phim, điền vào bản báo cáo hoạt động và sử dụng clapperboard ở đầu hay cuối mỗi phân cảnh.

+ Phụ trách ánh sáng ( Gaffer )
Vai trò của người phụ trách ánh sáng ảnh hưởng mật thiết đến sự thành công của một bộ phim. Nói cho cùng, tất cả những công việc sản xuất như phông màn, đạo cụ, tài năng, và quay phim đều phải dựa vào ánh sáng mới nổi bật được. Ánh sáng ẩu dễ làm hư một tác phẩm nghệ thuật, và ngược lại, ánh sáng đẹp sẽ làm tăng thêm giá trị một bộ phim bình thường.

Phụ trách ánh sáng quản lý độ sáng, màu sắc, độ tương phản, nguồn sáng và tính tự nhiên của ánh sáng. Họ cũng thường là người quản lý điện đóm, bảo đảm đủ năng lượng cho các độ sáng ở mọi cảnh quay. Trong những cảnh rộng, họ thường có thợ điện và vài người thợ lắp ráp giúp những việc tay chân cần thiết cho các yêu cầu điện đóm. Nhờ đó người phụ trách có thể rảnh rang lo ánh sáng, cụ thể là thiết kế, sắp đặt, và điều khiển những thiết bị ánh sáng và dàn đèn.

Kinh nghiệm và phong cách là những yếu tố cần thiết để chọn một người quản lý ánh sáng. Kinh nghiệm rất quan trọng. Lo ánh sáng cho một góc quay hay nhiều góc quay cùng một lúc là những chuyện rất khác nhau. Nhiều người phụ trách ánh sáng đã vô cùng lúng túng khi tìm cách lên đèn cho một cảnh sử dụng nhiều máy quay ở các góc độ, nhất là khi họ đã quen với kiểu quay một máy. Nói về phong cách, đó là khả năng ghi nhớ bối cảnh của một bộ phim. Ví dụ trong một bộ phim khung cảnh đồng quê, phụ trách ánh sáng cần chú ý hạn chế kiểu ánh sáng thành thị màu mè.

Phụ trách ánh sáng phối hợp chặt chẽ với Đạo diễn hình ảnh để cùng làm tôn lên phong cách nghệ thuật của một bộ phim. Họ thường đứng ở vị trí thứ ba, sau Đạo diễn, Đạo diễn hình ảnh ( và nhà quay phim, nếu có ). Có câu chuyện kể rằng khi một vị đạo diễn hình ảnh nổi tiếng và đáng kính được các sinh viên hỏi điều gì quan trọng nhất họ có thể làm để nâng cao chất lượng hình ảnh, ông đã trả lời: "Hãy thuê người phụ trách ánh sáng tốt nhất có thể, thậm chí chia một phần lương của mình cho anh ta".

+ Trợ lý ánh sáng ( Best Boy )

Trong những đoàn làm phim lớn sẽ có trợ lý ánh sáng. Trợ lý làm việc chủ yếu với đạo diễn hình ảnh và là cánh tay phải của người phụ trách ánh sáng. Công việc chủ yếu của họ là bảo đảm điện năng, chăm lo cho nhóm quay phim, lắp đặt thiết bị, quản lý công việc giấy tờ, và thuê thêm người nếu có những cảnh quay lớn phức tạp. Đôi lúc khi quản lý ánh sáng quá bận, người trợ lý này phải luôn luôn sẵn sàng để phụ việc hoặc làm thay người phụ trách ánh sáng.

Một khi Đạo diễn hình ảnh và phụ trách ánh sáng đã hội ý xong, công việc của trợ lý ánh sáng là lên đèn ở độ sáng và mờ cần thiết để phối hợp với tốc độ phim, tương phản, thiết bị lọc sáng, ống kính, và loại phim. Thường những bóng đèn họ sử dụng là những bóng đèn lớn ( 12,000 W đến 36,000 W ) và cần khá nhiều điện năng. Vài loại bóng đèn họ sử dụng được thiết kế đặc biệt chỉ dùng để bắt chước ánh sáng ngày ( đèn HMI ) hoặc đêm ( đèn Tungsten ). Họ cũng có những loại keo để tạo ra nhiều màu sắc khác nhau và làm ánh sáng nhạt hơn.

Hậu đài ( Grips )

+ Key Grip: Quản lý các nhân viên hậu đài. Đồng thời đây cũng là người tháp tùng và mang theo đầy đủ đồ nghề cho nhà quay phim đến những địa điểm quay.

+ Second Company Grip: Đặt hàng dụng cụ cần thiết cho công việc hậu đài ở mỗi phim.

+ Crane/ Dolly Grip: Người thiết kế đường ray máy quay, điều khiển tay cẩu máy quay hoặc lo phần "chân" của các máy quay, như cây chống, cây dù đủ cỡ...

+ Construction Grip: Dựng/ tháo phông màn, dựng dàn đèn, bảo trì phông cảnh.

+ Company Grips: Giúp việc lặt vặt cần thiết khi dựng cảnh.

3. Một số kỹ thuật quay phim

Góc quay là góc nhìn từ máy quay với chiều sâu, chiều dài, chiều rộng cân xứng với vật hay hành động được quay. Góc nhìn từ máy quay không chỉ quyết định cái gì sẽ xuất hiện trong cảnh đó mà nói chung còn là cách khán giả sẽ nhìn sự việc - gần hay xa, từ trên xuống hay từ dưới lên, chủ quan hay khách quan…

Do đó sự chọn góc quay không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ câu truyện mà còn thể hiện chất lượng thẩm mỹ của cảnh quay và quan điểm tâm lý của khán giả. Qua nhiều năm, đạo diễn và nhà quay phim đã thành lập một kiểu quy ước liên quan đến kỹ thuật, thẩm mỹ và đặc tính tâm lý của nhiều góc quay khác nhau.

Góc ngang ( vừa tầm mắt ) để diễn tả cảnh giống như thật nhưng ít kịch tính. Người ta cho là nó cung cấp cái nhìn bình thường và thường quay từ độ cao 1.2 m đến 1.8 m. Tầm mắt của nghệ sĩ ( chứ không phải của nhà quay phim ) quyết định chiều cao của máy quay, và đặc biệt chủ yếu trong những khi quay cận cảnh. Vì hướng nhìn bình thường nên cảnh quay góc ngang thường được sử dụng để tạo nên tình huống và chuẩn bị cho khán giả một cảnh liên quan.

Trong cảnh quay góc cao máy quay nhìn xuống sự vật. Theo kỹ thuật thì nó có thể cho phép đạo diễn có cái nhìn bao trùm hết mặt đất và hành động trong chiều sâu. Cảnh như vậy cũng sẽ có khuynh hướng làm chậm hành động lại và giảm bớt độ cao của sự vật hay nhân vật ( theo luật xa gần ). Nét đặc trưng cuối cùng này có thể gây ra nhiều hiệu quả tâm lý phụ, ví dụ như cho khán giả cảm giác mạnh mẽ hơn nhân vật trên màn ảnh hay ngụ ý hạ thấp tầm quan trong của bất cứ nhân vật nào với những người hoặc khung cảnh xung quanh.


Trong phim của Murnau The Last Laugh, diễn viên Emil Jannings thường được quay từ trên xuống sau sự sụp đổ của ông, trong khi trước đó các cảnh miêu tả ông như là một ông gác cổng kiêu hãnh thường được quay ở góc thấp. Trong cảnh quay góc thấp, máy quay thường đặt ở dưới nhìn lên sự vật. Hiệu quả của cách này thường là để tạo kịch tính, tạo nên sự xuyên tạc quyền lực của viễn cảnh và toàn bộ sự việc. Nó thường đẩy nhanh diễn biến phim, thêm tầm cao và sức mạnh cho nhân vật.

Sự sắp đặt máy quay góc thấp chiếm ưu thế trong phim Citizen Kane của Orson Welles để làm nổi bật sự to lớn phi thường của ông trùm báo chí. Để chấp nhận việc thường xuyên sử dụng kiểu quay này, Welles đã phải xây dựng phim trường toàn là trần nhà. Chính sự có mặt khắp nơi của trần nhà ở cảnh nền đã tạo nên một trong những nét đặc trưng khác thường của Citizen Kane. Chỉ đơn thuần thay đổi góc quay, đạo diễn có thể không chỉ cho thấy sự thăng trầm trong cuộc đời nhân vật mà còn thổi vào thái độ khán giả phải chấp nhận qua những cá tính và hành động trong phim.

Sự đa dạng trong các góc quay là vô tận. Không có luật lệ nào về chuyện phải sử dụng góc quay nhất định cho một cảnh nào đó. Góc ngang, góc cao và góc thấp chỉ là những nhóm chính, như là cách quay cạnh ( thêm một chiều nữa cho sự vật ), góc Hà Lan / khung nghiêng ( nhìn sự vật trong cái nhìn nghiêng hiệu quả cao ) và rất nhiều góc quay khác được sử dụng cũng như chưa được biết đến qua bao nhiêu thập kỷ làm phim.

Chuyển động máy quay là sự di chuyển ngang, dọc, theo đường ray ( sự chuyển động của máy quay trên một đường ray ngắn đặt sẵn quay theo vật thể di chuyển ) và phóng to thu nhỏ. Có những quy ước quan sát quốc tế dành cho chuyển động máy quay. Theo quy định, một nhà quay phim sẽ chạy máy quay ở vị trí nhất định trong một thời gian ngắn trước khi bắt đầu chuyển động, và đứng im một lần nữa sau khi hoàn tất chuyển động. Luật lệ này không chỉ giúp cho hình ảnh chuyển động uyển chuyển mà còn cho phép biên tập viên có sự lựa chọn giữa cảnh tĩnh và cảnh động khi đang chỉnh sửa phim.

Một cách nhìn thoáng hơn về luật này là chuyển động bắt đầu và kết thúc ở một điểm đặc biệt nào đó đã được chọn sẵn và quay tập nhiều lần trước khi quay chính thức. Đạo diễn hình ảnh trong trường hợp này khá quan trọng trong việc quyết định chuyển động máy, ví dụ sau một cảnh quay ngang từ trái sang phải không thể nào có cảnh quay ngang từ phải sang trái, hay là sự chuyển động của nghệ sĩ từ trái sang phải không thể theo sau một sự chuyển động khác từ hướng ngược lại.

Ngoài kiểu quay thường còn có kiểu quay cầm tay, một máy quay xách tay nhẹ cân cầm trên tay của nhà quay phim và dựa vào vai của người đó mà không cần dùng chân chống. Kiểu quay này bắt nguồn từ nhà quay phim thời sự và được sử dụng rộng rãi trong các phim tài liệu và những nhà làm phim tiên phong. Đầu những năm 60’ việc sử dụng máy quay phim cầm tay trong việc sản xuất phim điện ảnh ngày càng tăng, vừa tiện lợi vừa đạt được cảm giác thật hơn trong một số cảnh quay.

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012

Nguyên tắc và sự phá vỡ nguyên tắc của Yasujiro Ozu.

Nguyên tắc và sự phá vỡ nguyên tắc nối tiếp không gian trong nghệ thuật dựng phim Early Summer của Yasujiro Ozu.


Điện ảnh với tư cách là một môn nghệ thuật như bao môn nghệ thuật khác, đều có quá trình ra đời, phát triển. Trải qua những biến đổi trong lịch sử, điện ảnh sẽ tự hình thành cho mình những nguyên tắc nhất định. Và dường như tất cả mọi quá trình hình thành và phát triển đều chịu tác động bởi quy luật “phủ định của phủ định”, những quy tắc đã được hình thành chi phối sự phát triển của điện ảnh trong một giai đoạn lịch sử nào đó, và sẽ đến lúc, những nguyên tắc ấy sẽ trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển đi lên không ngừng của điện ảnh, tất yếu xuất hiện sự phá vỡ nguyên tắc. Đó là một tất yếu trong quá trình phát triển của nghệ thuật nói chung và của điện ảnh nói riêng. 

Dựng phim – với tư cách là một kĩ thuật điện ảnh quan trọng, luôn bao hàm trong nó những nguyên tắc và sự phá vỡ nguyên tắc. Những “nguyên tắc” được duy trì làm nên nét đặc trưng của điện ảnh; sự “phá vỡ” nguyên tắc góp phần làm nên nét đặc trưng trong phong cách làm phim của từng đạo diễn. Một trong những yếu tố làm nên tên tuổi của Yasujiro Ozu chính là sự phá vỡ nguyên tắc nối tiếp trong nghệ thuật dựng phim nói chung mà sự phá vỡ nguyên tắc nối tiếp không gian là một ví dụ điển hình. Sự phá vỡ nguyên tắc nối tiếp không gian trong nghệ thuật dựng phim của Ozu được thể hiện ở hầu hết tất cả những phim do ông đạo diễn mà Early Summerchỉ là một ví dụ minh họa.

Nói một cách dễ hiểu nhất, dựng phim là sự phối hợp của một cảnh quay này với một cảnh quay tiếp theo. Với những cảnh phim đã quay, đạo diễn có thể lựa chọn nhiều phương án cho việc dựng phim: dựng nối tiếp, dựng song song...Vào khoảng 1900 -1910, khi các nhà làm phim bắt đầu sử dụng việc dựng phim, họ tìm cách bố trí các cảnh quay của họ như thế nào để kể được một câu chuyện một cách mạch lạc và rõ ràng. Như vậy, việc dựng phim được hỗ trợ bằng nhiều chiến lược đặc trưng của kĩ thuật quay phim và dàn cảnh được sử dụng để đảm bảo sự nối tiếp của kể chuyện. Mục đích cơ bản của hệ thống nối tiếp là tạo ra một dòng chảy êm thuận từ cảnh quay này đến cảnh quay khác. Vì phong cánh dựng nối tiếp tìm cách trình bày một câu chuyện, tuy nhiên chính là thông qua việc xử lý không gian và thời gian mà việc dựng phim phát triển được sự nối tiếp của kể chuyện.


Như vậy, nguyên tắc nối tiếp không gian chỉ là một khía cạnh của nguyên tắc nối tiếp trong nghệ thuật dựng phim mà ở đây người viết đã tập trung vào để thông qua đó làm sáng rõ những “phá cách” của Ozu trong kĩ thuật dựng phim.


Theo David Bordwell và Kristin Thompson, trong phong cách nối tiếp, không gian của một cảnh quay được xây dựng dọc theo trục hành động, tuyến trung tâm hoặc tuyến 180 độ. Trục hành động xác định khu vực 180 độ để đặt camera . Nhà làm phim phải tính toán quay và dựng các cảnh như thế nào để đảm bảo trọng tuyến trung tâm và việc dựng cảnh sẽ được thao tác để tạo ra và lập lại không gian 180 độ. Phương pháp 180 độ đảm bảo sự nhất quán về vị trí tương đối trong khuôn hình, đảm bảo hướng nhìn, đảm bảo hành động nhất quán. Phương pháp này vạch ra không gian rõ ràng vì thế người xem luôn biết các nhân vật ở đâu trong mối tương quan giữa người này với người khác và dựng cảnh, đặc biệt là trong mối tương quan với hành động của câu chuyện. Chính vì thế, nguyên tắc nối tiếp không gian mang lại dòng chảy êm thuận giữa các cảnh quay trong toàn bộ phim. Như vậy nghĩa là, sự phá vỡ nguyên tắc nối tiếp trong không gian thực chất là việc vi phạm phương pháp 180 độ. Vị trí tương đối trong khuôn hình, hướng nhìn, hành động của nhân vật không có sự nhất quán. Máy quay camera không phải lúc nào cũng đặt cùng phía với trục hành động. Chính những sự “bất thường” này làm cho người xem bối rối, khó hiểu và điều đó đã mang lại những hiệu quả tự sự đặc biệt, góp phần hình thành nên dấu ấn cá nhân của người đạo diễn.

Ozu là một trong những nhà làm phim phi Hollywood, đã phát triển hàng loạt những cách tiếp cận khắt khe để tạo ra những bộ phim hoàn toàn khác biệt so với các bộ phim kinh điển. Thay vì phải tạo ra những sự kiện đối thoại và tuân theo những nguyên tắc cơ bản, Ozu đã làm khác đi. Cuối cùng, cấu trúc về không gian và thời gian trong phim của ông đã tạo ra những điều hết sức thú vị.

Early Summer kể lại mối quan hệ giữa các thành viên trong một gia đình truyền thống Nhật xung quanh sự việc Noriko lấy chồng. Mối quan hệ đó phản ánh mâu thuẫn giữa các thành viên, trong gia đình: những người lớn tuổi như cha mẹ, anh trai Noriko thì quay về với truyền thống, khó chấp nhận và vô cùng lo lắng trước quyết định kết hôn của cô với một người đàn ông lớn tuổi, đã có gia đình và đang sống với mẹ già, một đứa con nhỏ. Nhưng Noriko thì lại kiên quyết thực hiện quyết định của mình, kết hôn với người đàn ông mình yêu rồi rời quê hương lên sống ở một nơi xa xôi. Bộ phim phản ánh những mô típ đề tài quen thuộc trong phim của Ozu và cũng là một trong những ví dụ minh họa điển hình cho sự phá vỡ nguyên tắc nối tiếp trong nghệ thuật dựng phim của Ozu.

Thông thường, theo nguyên tắc dựng phim của Hollywood, không gian được dựng nối tiếp giữa các cảnh quay và nó cho ta biết vị trí chính xác của các nhân vật trogn không gian. Theo phương pháp 180 độ, không gian được thiết lập tạo nên một cấu trúc vô cùng chặt chẽ. Mỗi cảnh quay, đều cho biết vị trí của nhân vật trong không gian. Nhưng điều này khác hẳn với phim của Ozu. Thay vì phương pháp nối tiếp không gian thông thường như việc làm ánh sang mờ dần…Ozu đã sử dụng hàng loạt các cảnh quay chuyển tiếp riêng biệt liên quan đến việc cắt cảnh, dựng phim. Các cảnh chuyển tiếp này thường thể hiện những không gian không liên quan trực tiếp đến các cảnh phim – nơi xảy ra những sự việc, sự kiện chính của phim và có sự hiện diện của các nhân vật. Các không gian này thường chỉ gần những nơi quay phim, gần những nơi xảy ra sự kiện chính của các cảnh quay. Chẳng hạn như ngay đầu bộ phim, cảnh đầu tiên là toàn cảnh bờ biển trải rộng tít tắp và một con chó chạy lon ton trên bờ cát. Cảnh thứ hai là cảnh khung cửa sổ nhìn ra vườn, cảnh thứ ba là cảnh hành lang ngôi nhà, cảnh thứ tư là cảnh bố Noriko ngồi trên sàn nhà, cảnh thứ 5 là cảnh Noriko cùng đứa cháu ngồi trên bàn ăn sáng và hậu cảnh là hình ảnh người anh trai đang chuẩn bị trang phục để đi làm. Như thế, để đưa khán giả tiếp cận với cảnh quay chính, Ozu đã cắt cảnh 4 lần với những không gian không phải là nơi trực tiếp xảy ra cảnh quay chính. Những không gian này tuy chẳng phải nơi diễn ra những cảnh quay chính, không có nhân vật, không có đối thoại xuất hiện nhưng lại có ý nghĩa tự sự rất lớn. Chỉ thông qua những cảnh quay như thế, khán giả biết được ngôi nhà của Noriko nằm ở đâu (ở vùng biển), ngôi nhà trông ra một vườn cây rất rộng, hàng lang vào nhà trải rộng và có nhiều lồng chim…Những cảnh không gian ấy nói lên bối cảnh xảy ra câu chuyện phim là một miền quê vùng biển, yên ả và thanh bình. Chính trong sự yên ả và thanh bình ấy, những mạch ngầm sục sôi đang chuẩn bị diễn ra.

Hầu hết các bộ phim của Ozu đều vi phạm một cách “táo bạo” nguyên tắc nối tiếp không gian trong nghệ thuật dựng phim. Sự phá vỡ nguyên tắc này được thể hiện ở sự vi phạm phương pháp 180 độ và được biểu hiện ra ở ba khía cạnh: vị trí tương đối trong khuôn hình, hướng nhìn, hướng hành động của nhân vật. Điều này được thể hiện rõ nét trong bộ phim Early Summer.


Thứ nhất: về vị trí tương đối của khuôn hình.

Phương pháp 180 độ đảm bảo rằng, các vị trí tương đối trong khuôn hình luôn nhất quán trong toàn bộ phim. Tức là khi camere quay từ các vị trí khác nhau thì các nhân vật vẫn cùng các vị trí tương ứng của mỗi người trong khuôn hình. Chẳng hạn như trên khuôn hình có ba nhân vật đang đứng thẳng hàng với nhau, nhân vật B đứng giữa nhân vật A và C. Vị trí của các nhân vật sẽ vẫn được giữ nguyên trong các cảnh quay khi chưa có sự di chuyển vị trí của nhân vật. Một khuôn hình trong đó nhân vật A hay C đứng giữa hai nhân vật còn lại sẽ là sự vi phạm quy tắc này. Và sự vi phạm này sẽ làm cho khán giả bối rối.

Early Summer của Ozu có sự vi phạm phương pháp 180 trên. Trong rất nhiều cảnh quay, Ozu đã cắt hẳn 180 độ qua trục không gian cảnh quay từ hướng đối diện. Điều đó làm cho diễn viên cũng như đồ vật trong cảnh quay thứ nhất ở bên phía tay phải nhưng trong cảnh quay thứ hai lại ở phía bên trái và ngược lại. Ví dụ như:

Ở phút thứ 4 của phim Early Summer, trong cảnh Noriko ngồi trên bàn ăn sáng: cảnh trước, cô ngồi đối diện theo hướng nhìn thẳng vào máy quay nhưng cảnh sau đó Noriko đã ngồi quay lưng lại ống kính.

Ở phút 41 của phim: cảnh hai bố con Mamyia ngồi nói chuyện với nhau: cảnh trước Mamyia ngồi bên phải và đối diện với ông bố; ông bố ngồi theo hướng nhìn thẳng vào ống kính. Nhưng cảnh sau đó, Mamyia đã ngồi bên trái ông bố và ông bố đã quay lưng lại ống kính.

Ở phút 44 của phim, cảnh Noriko và chị dâu ngồi nói chuyện với nhau: cảnh trước Noriko ngồi phía bên trái, quay lưng lại với ống kính, người chị ngồi phía bên phải đối diện với cô. Nhưng cảnh sau đó, Noriko đã ngồi theo hướng nhìn thẳng vào ống kính và ở bên phải, còn người chị lại ngồi quay lưng lại với ống kính.

Ở phút 69 của phim, cảnh mẹ Noriko và chị dâu Noriko ngồi cùng hướng với nhau theo chiều từ phải sang trái nhưng cảnh sau đó cả hai người lại ngồi theo chiều ngược lại, nhìn từ trái sang phải.

Ở phút 83: cảnh bố mẹ Noriko ngồi buồn bã khi biết tin Noriko quyết định kết hôn với Yabe – người đã có một con. Cảnh trước cả bố mẹ Noriko ngồi cùng hướng theo chiều từ phải sang trái. Cảnh sau đó, mẹ Noriko ngồi theo hướng nhìn từ trái sang phải. Cảnh quay tiếp theo, bố Noriko ngồi theo hướng nhìn từ phải sang trái. Cảnh sau đó, mẹ Noriko ngồi nhìn theo hướng nhìn từ trái sang phải. Cảnh tiếp sau đó, cảnh cả bố và mẹ Noriko đã lại ngồi theo hướng nhìn từ trái sang phải.

Sự vi phạm phương pháp 180 độ như trên làm cho mối nối giữa các cảnh quay trở nên rõ nét, không được êm thuận. Với một khán giả thông thường nhất, dù không gọi tên được đó là sự vi phạm nguyên tắc nối tiếp không gian thì họ cũng nhận ra được điều bất thường từ những mối nối đó. Sự vi phạm nguyên tắc nối tiếp không gian như vậy làm cho vị trí tương đối trong khuôn hình không nhất quán, vị trí tương ướng của nhân vật trong khuôn hình không được duy trì trong các cảnh quay. Điều đó phần nào gợi lên sự trúc trắc, không đồng nhất trong quan điểm giữa các nhân vật. Đặc biệt sự vi phạm nguyên tắc này ở cảnh quay phút 83 của phim, nó càng tô đậm thêm sự buồn bã, lo lắng của bố mẹ trước quyết định của Noriko và nhấn mạnh sự cô đơn của bố mẹ khi con gái mình sắp đi lấy chồng.


Thứ hai: về hướng nhìn của nhân vật.

Phương pháp 180 độ được duy trì đảm bảo hướng nhìn của nhân vật luôn nhất quán. Chẳng hạn một khuôn hình 1 thể hiện hai nhân vật A và B đang nói chuyện với nhau. Khuôn hình 2 thể hiện hướng nhìn của A từ trái sang phải và khuôn hình 3 thể hiện hướng nhìn của nhân vật B từ phải sang trái. Nếu khuôn hình 3 thể hiện hướng nhìn của nhân vật B cùng chiều với nhân vật A, tức là từ trái sang phải thì sẽ làm cho hướng nhìn của nhân vật không nhất quán, tức vi phạm phương pháp 180 độ. Hiện tượng này xảy ra rất nhiều trong các cảnh quay của phim Early Summer.Ví dụ:

Ở phút 27 của phim, cảnh Noriko và 2 người phụ nữ khác đang ngồi nói chuyện trong phòng. Cảnh quay thứ nhất quay toàn cảnh ba người đang ngồi nói chuyện cùng với nhau. Cảnh quay thứ hai, thứ ba và thứ tư lần lượt quay từng nhân vật một và các nhân vật đều nhìn theo một hướng từ phải sang trái.

Ở phút 44, cảnh Noriko và chị dâu ngồi nói chuyện với nhau. Cảnh quay trước quay toàn cảnh hai chị em đang ngồi trong phòng. Những cảnh kế tiếp sau đó quay từng người một và cả hai chị em đều nhìn theo hướng từ phải sang trái.

Ở phút thứ 49, Tami và mẹ Noriko ngồi nói chuyện với nhau. Cảnh trước quay toàn cảnh hai người đang ngồi đối diện với nhau. Những cảnh sau đó quay từng nhân vật một nhưng cả hai nhân vật đều nhìn theo một hướng từ trái sang phải.

Ở phút 57, cảnh Noriko và người bạn gái ngồi nói chuyện với nhau. Cảnh thứ nhất có sự hiện diện của cả hai người, cả hai ngồi cùng hướng và nhìn từ phải sang trái. Cảnh kế tiếp, Noriko nhìn từ trái sang phải. Cảnh liền kề, người bạn gái nhìn từ phải sang trái. Tiếp đó, lại cảnh Noriko ngồi nhìn từ trái sang phải. Và sau đó là cảnh hai người vẫn ngồi cùng phía theo chiều nhìn từ trái sang phải.

Ở phút 112, cảnh hai chị em Noriko ngồi trên đồi cát nói chuyện. Cảnh trước quay cả hai chị em cùng ngồi nói chuyện. Các cảnh sau đó quay từng nhân vật một và hướng nhìn của các nhân vật đều theo chiều từ phải sang trái. 

Ở phút 120, cảnh cả nhà ngồi lại cùng nhau sau bữa cơm tối, nói chuyện và dặn dò Noriko khi Noriko sắp lấy chồng và chuyển đến một nơi xa xôi sống. Cảnh trước quay toàn cảnh mọi người ngồi quây quần bên nhau. Những cảnh sau đó, từng nhân vật xuất hiện độc chiếm khuôn hình và các nhân vật đều nhìn theo hướng từ trái sang phải.

Như vậy, nguyên tắc nối tiếp không gian của Hollywood rõ ràng bị phá vỡ. Nguyên tắc ấy chỉ ra rằng, các nhân vật đang đối thoại với nhau phải nhìn cùng một hướng. Sự vi phạm nguyên tắc này của Ozu làm cho hướng nhìn của nhân vật không nhất quán. Dường như các nhân vật ấy không nói chuyện với nhau dù thực chất các nhân vật đó đang ngồi nói chuyện với nhau. Sự vi phạm này tạo ra sự không êm thuận giữa các mối nối cảnh quay. Điều đó phải ánh những bất thường, những vết rạn trong mối quan hệ giữa các nhân vật và cả những bất trắc trong cuộc sống. Điều đó làm cho hầu hết những phim của Ozu, ngay cả những phim diễn ra ở những bối cảnh rất bình yên, tĩnh lặng nhưng khán giả vẫn cảm nhận được những bất trắc, những vết rạn nứt của cuộc sống mà chúng ta đang bị cuốn trôi đi đến mức độ thờ ơ, dửng dưng bởi cứ ngỡ rằng tất cả đã hoàn hảo, chẳng có gì để nói. 

Trong rất nhiều cảnh quay khác, toàn cảnh thể hiện các nhân vật đang đối thoại với nhau nhưng khi quay từng nhân vật riêng rẽ, chúng ta lại thấy hiện tượng các nhân vật nhìn trực tiếp vào ống kính để nói. Điều này được thể hiện rõ nét qua những cảnh đối thoại ở những phút 52, phút 68, phút 82, phút 94. Việc để cho nhân vật nhìn thẳng vào ống kính để đối thoại đã mở rộng đối tượng đối thoại của nhân vật (không chỉ có nhân vật trong phim mà còn đưa tạo điều kiện cho khán giả tham gia nhiều hơn vào bộ phim). Điều đó càng làm tăng tính đối thoại trong các cảnh quay và mở rộng thêm ý nghĩa của phim, phạm vi thông tin của phim mang lại.

Như vậy, với những phương pháp nghệ thuật mang những đặc trưng riêng, những tình huống đối thoại được thực hiện bằng những cảnh quay lặp đi lặp lại đôi khi cắt 180 độ so với trục quay, làm cho hình cảnh các nhân vật đối thoại trong những cảnh riêng rẽ và liên tiếp thay vì phải tạo cảm giác là họ đang nhìn vào nhau để nói chuyện hay nhìn cùng vào một sự vật thì Ozu lại để cho các nhân vật nhìn cùng một hướng, như vậy đánh lừa cảm giác là hai nhân vật ấy không nhìn vào nhau. Chính những nét đặc trưng riêng này đã góp phần làm thành đặc trưng phong cách cuả Ozu.

Thứ ba: về hướng hành động.

Phương pháp 180 được sử dụng nhằm duy trì sự nhất quán trong hướng hành động của nhân vật. Chẳng hạn khuôn hình 1, nhân vật A đi từ trái sang phải. Hướng chuyển động của nhân vật từ trái sang phải làm thành trục hành động. Khuôn hình 2, nhân vật A vẫn phải đi theo hướng từ trái sang phải, tức duy trì hướng hành động của nhân vật. Nhưng khi một cảnh quay vượt qua trục đó, tức một cảnh quay từ phía bên kia làm cho nhân vật A trong khuôn hình 2 thay vì đi từ trái sang phải lại đi từ phải sang trái. Một cắt dựng không đảm bảo sự nhất quán trong hành động như vậy đã vi phạm phương pháp 180 độ. Sự vi phạm này sẽ làm khán giả bối rối, mất phương hướng.

Sự vi phạm phương pháp 180 độ làm cho hướng hành động của nhân vật trong rất nhiều cảnh quay của Early Summer không nhất quán. Trong rất nhiều cảnh quay, ở cảnh quay trước nhân vật đi từ phải sang trái. Hướng từ phải sang trái làm thành hướng hành động hay trục hành động. Nhưng cảnh quay kế ngay đó, nhân vật lại vào hình theo hướng từ bên trái sang bên phải (trước khi nhân vật xuất hiện ở cảnh quay sau lại thường là một không gian xuất hiện trước và điều đó làm cho khán giả mong đợi là nhân vật sẽ đi từ bên phải vào nhưng sự xuất hiện đột ngột của nhân vật từ phía bên trái đi vào làm khán giả bất ngờ) Ví dụ các cảnh quay như:

Ở phút thứ 4: cuối cảnh trước Isamu đi theo hướng từ phải sang trái khuôn hình nhưng cảnh sau đó Isamu lại đi vào từ bên phải của khuôn hình. 

Ở phút thứ 7: Cảnh trước Noriko đi từ phải sang trái rẽ lên cầu thang. Cảnh liền sau đó, một không gian căn phòng xuất hiện và Noriko đi vào khuôn hình theo chiều từ bên phải.

Ở phút thứ 19, Noriko đi theo chiều từ trái sang phải mang đồ uống cho bố và chú. Cảnh sau xuất hiện không gian căn phòng nơi bố Noriko và ông chú đang ngồi nói chuyện, và Noriko đột ngột đi từ phải sang trái. Cảnh kế theo, Noriko đi ra, cô lại đi từ trái sang phải. Và cảnh sau đó cô lại vào hình theo chiều từ trái sang phải.

Ở phút 44, Noriko về nhà. Cảnh trước cô đi theo chiều từ trái sang phải nhưng cảnh sau cô lại đi theo chiều từ phải sang trái.

Ở phút 55, cảnh trước Noriko và người bạn đi lên phòng cô và đi theo chiều từ trái sang phải. Nhưng cảnh sau đó, hai người lại đang đi theo chiều từ phải sang trái.

Ở phút 97, cảnh trước Noriko và người bạn bước lên cầu thang và đi theo chiều từ trái sang phải nhưng cảnh sau, họ đã bước hết cầu thang và đi theo chiều từ phải sang trái.

Ở phút 121, Noriko chạy lên cầu thang theo chiều từ trái sang phải nhưng cảnh sau cô lại chạy từ phải sang trái.

Những cảnh quay như trên làm cho hướng hành động của nhân vật không nhất quán. Khán giả nhiều lúc cảm thấy như nhân vật vừa đi theo chiều từ A đến B ở cảnh quay trước nhưng ở cảnh quay sau nhân vật lại đi ngược trở lại theo chiều ngược lại. Điều này làm cho khán giả để theo dõi phim phải chú ý đến các đồ vật trong không gian để định vị vị trí của nhân vật có phải đã đến một không gian mới hay là nhân vật lộn trở lại không gian ban đầu.

Ngoài cách dựng như trên làm hướng hành động của nhân vật không nhất quán, Ozu dựng những cảnh quay liên tiếp làm phá tuyến hành động trung tâm. Cảnh trước nhân vật A vắng bong nhưng đột ngột xuất hiện ở cảnh sau và nhân vật được theo sát bởi camera, làm thành một trục hành động mới.

Tuy có rất nhiều những bước phát triển làm phá vỡ nguyên tắc nối tiếp không gian trong nghệ thuật dựng phim nhưng Early Summer vẫn có những cú dựng tuân thủ mẫu mực nguyên tắc này. Điều đó làm cho bộ phim, sau những cú dựng làm cho khán giả bối rối khó hiểu cũng được “trấn an” trở lại. Ví dụ như những cú dựng theo điểm nhìn tương hợp:

Ở phút thứ 5, cảnh trước mẹ Noriko từ từ ngẩng đầu nhìn lên từ bên trái, cảnh sau là cảnh cái cột gắn con chong chóng và phía dưới là hình những con cá làm bằng vải được gắn trên cột. 

Ở phút thứ 60, cảnh trước bố mẹ Noriko đang nhìn lên bầu trời, cảnh sau xuất hiện quả bong bay đang bay trên bầu trời.

Ngoài những cú dựng đảm bảo nguyên tắc nối tiếp không gian nhờ những điểm nhìn tương hợp, trong Early Summer còn có rất nhiều những cú dựng trong đó đảm bảo vị trí tương đối trong khuôn hình, hướng nhìn và hướng hành động của nhân vật nhất quán từ cảnh quay trước với cảnh quay sau. Chính những điều đó làm cho phim của Ozu tuy có những cách tân đặc biệt nhưng vẫn được khán giả dễ dàng đón nhận.

Nói tóm lại, nguyên tắc và sự phá vỡ nguyên tắc nối tiếp không gian trong nghệ thuật dựng phim được thể hiện trong hầu hết những phim của Ozu mà Early Summer chỉ là một ví dụ minh họa. Chính sự phá vỡ nguyên tắc này, kết hợp cùng với nhịp điệu rề rà chậm rãi trong phim đã làm cho khán giả được nhìn ngắm những gì diễn ra trước mắt lâu hơn, ấn tượng hơn, dễ đọng lại trong tâm trí khán giả hơn và để lại dấu ấn lâu bền hơn. Đặc biệt, sự phá vỡ nguyên tắc ấy đã khắc sâu cho chúng ta thấy những bất trắc, những vết rạn nứt của cuộc sống mà chúng ta đang bị cuốn trôi đi đến mức độ thờ ơ, dửng dưng bởi cứ ngỡ rằng tất cả đã hoàn hảo, chẳng có gì để nói.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | GreenGeeks Review